Bài đọc thêm số 1 - Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền
(Trang 6/6)
THIỀN LÀ DỤNG CỤ TẠO RA SỰ HÀI HÒA CHO CON NGƯỜI
Yếu tố quan trọng trong Thiền là khai triển năng lực Tánh giác. Thực sự, Tánh giác tuy vốn có sẵn trong mỗi chúng ta,
nhưng chúng ta không biết làm sao cho nó có mặt thường trực để trở thành năng lực tác động vào các cơ chế khác bên trong não bộ, bên trong
hệ thống Viền não, và bên trong hệ thống Tuyến nội tiết. Nếu thực hành thiền đúng kỹ thuật, ta sử dụng trí năng tỉnh ngộ để tác động thẳng
vào 1 trong 4 tánh thuộc cơ chế Tánh giác, ta sẽ kinh nghiệm được giá trị thực tiễn của năng lực Tánh giác như thế nào mà không cần ngồi
chờ xua tan vọng tưởng, cũng không cần buông bỏ nó, hay quán chiếu nó là thế này, thế khác. Chỉ vì khi 1 trong 4 tánh bị kích thích, ý thức,
ý căn, và trí năng không có mặt.
Ngày nay, Y khoa Tây phương và Tâm lý học Tây phương, cả hai đều xem Thiền là dụng cụ có khả năng chữa trị bệnh tâm thể,
bệnh uất cảm, và bệnh tâm thần phân liệt. Đó là thông qua các chủ đề trong Thiền, ta kết hợp với kỹ thuật dụng công để tác động vào các
tánh bên trong cơ chế tánh giác, ta sẽ điều chỉnh được những rối loạn chức năng bên trong hệ thống viền não, hệ thần kinh tự quản, và các
tuyến nội tiết. Vì thế, như những bộ môn Khoa học khác trên thế gian, Thiền được xếp là bộ môn Khoa học Tâm linh thực nhiệm. Nó được xem
như là dụng cụ có khả năng chữa những thứ bệnh tâm thể và bệnh uất cảm kinh niên. Nó giúp cho cuộc sống con người được hài hòa cùng với
môi trường chung quanh. Đó là những sự hài hòa giữa thân và tâm của cá nhân, hài hòa giữa cá nhân này với cá nhân kia, và hài hòa giữa cơ
thể của cá nhân với thời tiết trong thiên nhiên. Khi thân và tâm cân bằng, hài hòa sẽ xảy ra. Hạnh phúc và an lạc thực sự nằm trong nguyên
lý thực tiễn đó.
Thí dụ:
- Sống trong gia đình, người cư sĩ tạo ra được sự hòa thuận với chồng vợ, con cháu, cha mẹ hay bà con quyến thuộc. Mọi mâu thuẫn,
tranh chấp, gây hấn không xảy ra trong nội bộ gia đình. Đặc biệt, trong sinh hoạt Đạo tràng, người cư sĩ dễ dàng thông cảm với bạn thiền.
Mọi tị hiềm nhỏ nhen không xảy ra giữa bạn thiền với nhau.
- Sống trong tăng chúng, người tu sĩ không tạo ra những tị hiềm nhỏ nhen; bất mãn về quyền lợi hay địa vị với những người khác. Không khí
hòa hợp, an vui, thanh thản thường xuyên được biểu lộ ra ngoài mọi hành động của thân và lời nói.
Khi thân và tâm không cân bằng, những bất hòa sẽ xảy ra. Đó là thân đau và tâm thì rối loạn. Cá nhân lại có nhiều xung đột
với người khác. Phiền não không làm sao tránh khỏi khi thân và tâm bất hài hòa.
KẾT LUẬN
Khác hơn ngày xưa, ngày nay khi học và thực hành thiền, chúng ta cần được trang bị thêm những kiến thức khoa học căn bản
về Não bộ, về Hệ thống Viền não, về Thần kinh Tự quản, về Tuyến Nội tiết, về kỹ thuật thực hành thiền để chúng ta dễ nhận ra những giá trị
căn bản của Thiền đối với đời sống con người, thực sự dựa trên những yếu tố gì? Hành trang mới này rất thiết thực và cần thiết cho cuộc hành
trình tâm linh lâu dài của chúng ta. Bởi vì khi thực hành, chúng ta sẽ là người độc hành độc bộ. Chúng ta đi một mình, thực hành một mình.
Bạn không có. Kinh không có. Chúng ta một mình lên võ đài chiến đấu với quần ma vọng tưởng, hay chiến đấu với mình để triệt tiêu những
bản chất phàm tục, làm cho tánh giác hiển lộ vững chắc.
Đây không phải chúng ta ôm vào những mớ lý thuyết không lợi ích cho người mới tu thiền; trái lại, chúng ta cần có số kiến
thức mới đó để hỗ trợ cuộc hành trình tâm linh được an toàn hơn. Chúng ta đi mà không sợ lạc, thực hành mà không sợ bị tẩu hỏa nhập ma.
Bằng những kỹ thuật thực hành kết hợp với Pháp và những tác dụng sinh học bên trong não bộ, bên trong hệ thần kinh, và bên trong tuyến nội
tiết, cho thấy trọng tâm tác dụng của Thiền là giúp người thực hành có những kinh nghiệm cụ thể trên thân, tâm, và trí tuệ tâm linh của mình
như sau:
- Chuyển hóa tâm,
- Điều chỉnh bệnh tật của thân
- Cân bằng hay hài hòa thân tâm,
- Hài hòa với môi trường chung quanh, và
- Phát huy trí tuệ tâm linh.
Những kinh nghiệm này đều dựa trên nguyên lý Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền. Muốn đi sâu vào Thiền và muốn thực hành có kết
quả, chúng ta cần có thêm kiến thức về Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền.
Chú thích của HỒI ĐÁP SINH HỌC TRONG THIỀN
- Bệnh Liệt Rung (Parkinson): Bệnh Parkinson là bệnh suy nhược não bộ hay rối loạn thần kinh trung ương, do thiếu nhiều dopamine ở não,
làm cho cơ thể suy yếu: cơ bắp cứng đơ, cử động khó khăn, bước đi không vững, đi như kéo lê thân mình, làm cho thân hơi cúi về phía trước;
tư thế cứng nhắc, tay đưa ra không thẳng; đôi khi làm rung tay và đầu lắc lư (tremor); đầu nặng, gương mặt như đeo một miếng gì nặng, phát
ngôn khó khăn. Nó được xếp là một loại bệnh liệt rung (Paralysis agitans). Phần lớn bệnh này có ở tuổi từ 50 đến 70, trung bình là 58. Trong
cơ thể khỏe mạnh, dopamine thoát ra từ vùng Dưới Đồi (Hypothalamus) và vùng liềm đen [substantia nigra, có nghĩa chất đen (black substance)]
ở cuống não.
- Bệnh Trầm Cảm (Depression): Bệnh này biểu lộ trạng thái tâm thần quá chán nản, lúc nào bệnh nhân cũng tỏ vẻ buồn cực độ vì mất tất cả
hy vọng, không còn hăng hái làm việc, không còn tha thiết đến điều gì. Nó làm cho con người cảm thấy buồn, chán ngán, u sầu, hết hy vọng
vào ngày mai, không thấy hứng thú, mất hết năng lực hoạt động; thường nghĩ đến chết và tự tử.
Trong những triệu chứng sinh học, bệnh trầm cảm bao gồm:
- Rối loạn chức năng tuyến giáp
- Cortisol từ tuyến thượng thận tăng nhiều trong cơ thể cũng đưa đến trầm cảm.
- Rối loạn sự ngủ, như mất ngủ hay ngủ nhiều,
- Ăn không thấy ngon miệng,
- Mất cân,
- Bị táo bón,
- Sinh lý yếu,
- Bi quan, tuyệt vọng, rầu buồn,
- Không thấy thích trong những cuộc vui bình thường và những hoạt động bình thường,
- Khó tập trung hay quyết định điều gì,
- Lánh xa những hoạt động xã hội,
- Mệt mỏi hay dã dượi (lethargy),
- Trầm ngâm tư lự (ruminating) về quá khứ,
- Mất hết tự tin.
Chữa trị bằng Thiền:
- Tăng mức độ serotonin bằng cách thực hành nhìn ánh sáng nắng, hoặc nhìn bóng đen,
- Thực tập thở Hai Thì,
- Ngoài ra cần thực tập Thở nội lực (theo Khí Công).
- Bệnh Nhức Nửa Đầu (Migraine): Bệnh này do những mạch máu ở đầu giãn nở quá mức. Khi đau thì từ lớp mỏng của não và từ da đầu do
cơ bắp và mạch máu căng hay nong ra.
Triệu chứng thường báo hiệu trước khi nhức là bệnh nhân thấy ánh sáng kéo dài vài phút. Thí dụ như những điểm mờ (blurring or bright spots)
hay sáng trong tầm nhìn; lo âu; mệt; rối loạn suy nghĩ và tê hay ngứa rang như có kiến bò (tingling) một bên thân mình, thường có mệt lả
và nôn.
Nguyên nhân:
Bệnh do nhiều nguyên nhân: (1) Thấp mức serotonin, (2) thấp magnesium, (3) do uống rượu, ăn chocolate, cheese quá nhiều, (4) rối loạn thần
kinh, (5) do bệnh uất cảm (stress) kinh niên làm căng cơ mặt, cổ hay da đầu, (6) do phiến máu (platelet) đóng trong mạch máu làm thành cục
nghẽn (clots), (7) do tư thế ngồi hay đứng không hợp với các dây thần kinh và cơ bắp.
Chữa trị bằng Thiền:
- Thư giãn mặt, thư giãn cơ bắp để tiết ra acetylcholine và dopamine.
- Uống thêm B6 và thêm thuốc magnesium và những thuốc theo sự chữa trị của bác sĩ chuyên khoa.
- Bệnh Mất Ký Ức (Alzheimer): Bệnh tăng dần sa sút trí tuệ ở tuổi trung niên do nhiều nguyên nhân.
Chữa trị bằng Thiền:
- Thực tập thư giãn hoặc nghe âm thanh để tiết ra acetylcholine.
- Ngoài ra cần dùng thuốc theo sự chữa trị của bác sĩ chuyên khoa.
- Bệnh Tâm Thần Phân Liệt (Schizophrenia): Bệnh tâm thần phân liệt do nhiều nguyên nhân tạo ra. Phần lớn những nguyên nhân này là
do tâm bị chấn động vì một dữ kiện xúc cảm mạnh, đưa đến rối loạn chức năng ở hệ thống viền não.
Các nhà khoa học về thần kinh cũng khám phá nguyên nhân đưa đến hệ thống viền não bị rối loạn vì quá nhiều chất glutamate và thiếu chất
dopamine bên trong đó. Chính chất glutamate làm cho bệnh nhân thường có ảo giác là có người theo dõi và kiểm soát hoạt động của mình, hoặc
có người nói chuyện với mình và sai khiến mình làm việc này việc kia.
Ngoài ra, tại tiền trán và tại 2 vùng nghe, thấy ở thùy chẩm và thùy thái dương cũng có quá nhiều chất glutamate, thiếu chất dopamine, tạo
ra suy nhược thần kinh, đưa đến bệnh nhân rối loạn suy nghĩ, nói năng, và tri giác. Xúc cảm thay đổi bất thường, đôi khi cũng hung bạo.
Bệnh nhân thường sợ hãi và lo âu, thường sống tự cô lập với mọi người chung quanh.
Chữa trị bằng Thiền:
- Thiền chỉ có khả năng quân bình lại hoạt động của Hệ thống Viền não để tâm được ổn định. Và bằng những cách thực hành khác để các chất nước
hóa trong tuyến tùng, đối giao cảm thần kinh, và cuống não tiết ra serotonin (bằng cách nhìn ánh sáng nắng), acetylcholine (bằng cách thư
giãn lưỡi), acetycholine và dopamine (bằng thở hai thì).
- Ngoài ra, cũng có thể áp dụng thở Nội lực để tiết ra norepinephrine (trong giao cảm thần kinh) và Coenzyme Q10 (trong cơ bắp).
Sơ đồ BA SẮC THÁI BIẾT
