Bài đọc thêm số 1 - Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền
(Trang 4/6)
VÀI CHI TIẾT VỀ HỒI ĐÁP SINH HỌC TRONG THIỀN
Trong Thiền, phương pháp thư giãn tâm hay thư giãn niệm là một phần quan trọng của sự tạo ra hồi đáp sinh học để chữa
bệnh tâm thể và bệnh suy nhược thần kinh ngay tức khắc. Nó là thuốc giải độc bệnh Uất cảm (Stress), thuốc giải độc những
rối loạn tâm xúc cảm và điều chỉnh lại những rối loạn chức năng thần kinh. Chỉ vì khi ta thư giãn tâm, hệ thống Viền não
bị tác động. Tiếp theo, khu Dưới Đồi bị hoạt hóa. Nó liền tác động thẳng đến Đối giao cảm thần kinh và những nơi liên hệ
khác như tuyến Yên, vỏ não để những nơi đây tiết ra các thần kinh dẫn truyền như acetylcholine và dopamine. Nhờ đó ta
phục hồi được những chức năng thần kinh và nội tạng mau lẹ.
Dopamine có nhiều khả năng chữa bệnh liệt rung (Parkinson) và bệnh tâm thần phân liệt (Schizophrenia). Thông thường,
người mang bệnh ảo giác về nghe và thấy là do 2 vùng nghe trong não và vùng thấy ở vỏ não bị thiếu dopamine và quá nhiều
chất glutamate tại 2 nơi này. Nếu biết cách hướng dẫn người mắc bệnh này thực hành phương pháp thư giãn niệm hay thư
giãn tâm, thư giãn thần kinh mặt, thư giãn lưỡi, dopamine sẽ được tiết ra để điều chỉnh 2 thứ bệnh nan y đó.
Acetylcholine cũng đóng vai quan trọng trong việc làm hạ huyết áp, học hỏi, ký ức và phát huy năng lực nhận thức. Người
mắc bệnh mất trí nhớ, tức bệnh Alzheimer, đặc biệt là do suy yếu chất acetylcholine ở vỏ não. Nó cũng có khả năng giúp
cơ thể điều hòa được cử động. Do đó, vai trò của acetylcholine rất quan trọng. Chức năng của nó là giúp cho ta được tỉnh
thức, tăng cường ký ức, và năng lực nhận thức. Nhiều vùng bên trong não và cơ cấu mạng lưới cũng có chứa acetylcholine.
Muốn trị bệnh mất ngủ kinh niên và nhức đầu một bên (thiên đầu thống), ta chỉ cần áp dụng chiêu thức quán ánh sáng (nắng).
Tức là ngồi nhìn ánh sáng nắng từ 10 phút đến 20 phút và thực tập trong vòng 6 buổi, ta sẽ có kinh nghiệm chữa trị những
chứng bệnh mất ngủ kinh niên, bệnh nhức đầu một bên, và bệnh thiếu kiên nhẫn (xem hình phải).
Khi nhìn, ta chọn chỗ ngồi thoải mái, tâm không trụ vào một điểm nào, cũng không khởi niệm tưởng tượng về ánh sáng nắng.
Ta chỉ nhìn và thấy biết ánh sáng nắng. Thế thôi. Đây là cách nhìn bằng tánh thấy. Bằng cách này để kích thích tuyến
Tùng (nằm phía sau Đồi Thị) tiết ra serotonin và melatonin, đồng thời cũng quân bình được chất dopamine tại thùy chẩm,
giúp điều chỉnh bệnh ảo giác về thấy và nghe.
Serotonin là thần kinh dẫn truyền quan trọng. Nó được sản xuất từ tuyến Tùng. Nó giúp cho sức khỏe dồi dào, làm việc dẽo
dai, điều chỉnh ngủ thức, chữa trị bệnh trầm cảm; có cảm giác như no bụng; ít ăn; điều chỉnh sự căng thẳng thần kinh và
lo âu. Nó cũng có khả năng chữa bệnh nhức một bên đầu (Migraine). Ngược lại, nếu trong cơ thể mức serotonin xuống thấp,
đưa đến bệnh trầm cảm, mất ngủ, lo âu, chán nản, thiếu kiên nhẫn, thiếu hăng say.
Melatonin có khả năng điều hòa ngủ thức, trị bệnh mất ngủ kinh niên và ung thư. Nó cũng giúp hạ huyết áp và ngăn ngừa
được bệnh tim (heart attack), bệnh tai biến mạch máu não (stroke), ngăn chận bệnh mắt (cataract). Nó được sản xuất từ
tuyến Tùng và khu Dưới Đồi. Nó cũng có khả năng kích thích hệ thống miễn dịch, phục hồi ký ức và chữa trị bệnh mất trí
nhớ (Alzheimer).

VẤN ĐÁP
Hỏi: - Làm sao biết mình thực hành sai kỹ thuật?
Đáp: - Khi thực hành bất kỳ chủ đề nào, nếu ta thường xuyên tập trung tư tưởng vào đối tượng để thực hành. Ta sẽ tạo ra sự căng thẳng
thần kinh liên tục. Niệm tạp nhạp tuy không xen vào trong quá trình này, nhưng kết quả đưa đến là thần kinh bị căng thẳng và ta cũng không
kinh nghiệm được niệm biết của tánh giác.
Khi thần kinh bị căng thẳng, norepinephrine và epinephrine sẽ có điều kiện tiết ra, đưa đến kết quả là sau thời thiền, ta cảm thấy mệt, tim
đập nhanh, miệng khô, đo huyết áp thấy cao hơn mức bình thường, đó là ta đã thực hành sai.
Hỏi: - Khi thực hành không theo vọng tưởng, nếu tôi áp dụng cách mèo rình chuột để cho vọng tưởng không khởi lên thì
kết quả như thế nào?
Đáp: - Kết quả là giao cảm thần kinh bị kích thích thường trực, đưa đến norepinephrine bị tiết ra nhiều, làm cho máu cao.
Hỏi: - Tại sao?
Đáp: - Vì khi ngồi rình vọng tưởng, trong tiến trình này, ta vừa nỗ lực cố gắng để rình, vừa tỉnh táo (arouse) để canh chừng
vọng, không cho vọng khởi lên. Cách này sẽ đưa đến thần kinh bị căng thẳng. Nếu kiên trì thực tập rình vọng tưởng như mèo rình chuột trong
nhiều ngày, cuối cùng ta sẽ bị bệnh máu cao và trong máu có đường. Đồng thời, bằng cách thực hành này, ta cũng sẽ không bao giờ kinh nghiệm
được trạng thái biết không lời của tánh giác.
Hỏi: - Tại sao không kinh nghiệm được?
Đáp: - Vì tánh giác chỉ có mặt khi ta không sử dụng ý thức để tập trung vào đối tượng.
Hỏi: - Nếu không áp dụng cách rình vọng như mèo rình chuột, thì làm sao cho vọng không khởi lên?
Đáp: - Áp dụng kỹ thuật không dán nhãn đối tượng. Đối tượng như thế nào, ta chỉ thấy biết, nghe biết, xúc chạm biết, hay
nhận thức biết như thật về đối tượng. Trong tiến trình này, vọng tâm, vọng tưởng không thể xen vào. Ta không bị căng thẳng thần kinh. Thực
tập nhiều ngày, quán tính suy luận của trí năng, quán tính phân biệt của ý thức, và quán tính suy nghĩ, tính toán của ý căn sẽ từ từ giảm
bớt. Đổi lại, quán tính biết của tánh giác sẽ từ từ trở thành năng lực vững chắc trong sinh hoạt hằng ngày của ta.
Hỏi: - Tại sao Tâm đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành thiền để tạo ra tác dụng sinh học?
Đáp: - Vì khi tâm tỉnh ngộ. tâm có lòng tin, có niềm vui, có cân nhắc, có tìm hiểu ý nghĩa pháp để thực hành, biết bố trí
thì giờ để đi nghe pháp, và thân cận với thiện tri thức để thưa hỏi, biết chọn pháp để ứng dụng, và đặc biệt là tâm miên mật thực hành để
đi đến thể nhập. Có thể nhập mới tạo ra tác dụng sinh học trong cơ thể (body) và tâm trí (mind). Vì khi 1 trong 3 cơ chế của tánh giác bị
kích thích (stimulated) thì một trục dây chuyền từ bên trong não sẽ bị hoạt hóa (activated). Lúc đó các chất sinh hóa học có lợi cho cơ thể
sẽ tiết ra (secrete). Với thân, gọi là thân chứng nghiệm. Với tâm gọi là tâm chứng nghiệm. Với trí, gọi là trí chứng. Với tuệ gọi là tuệ
chứng nghiệm.
Hỏi: - Nhưng trục (axis) đó như thế nào?
Đáp: - Thí dụ khi dùng kỹ thuật không định danh đối tượng. Đó là ta áp dụng mắt để kích thích tánh thấy trong cơ chế
tánh giác. Ta thấy đối tượng mà không gọi tên đối tượng. Lúc đó ta biết rõ ràng về đối tượng mà tâm không dính đối tượng. Vì tánh thấy đã
có mặt. Hai bên tiền trán bán cầu não trái và phải không hoạt động. Nên tâm xúc cảm không hiện ra. Trong cái thấy chỉ là cái thấy. Ngay
lúc đó hệ thống viền não liền bị tác động. Tức thì một trục từ vùng Dưới đồi, Tuyến nội tiết, Đối giao cảm, Cuống não liền bị tác động dây
chuyền.
Hỏi: - Nếu Giao cảm bị tác động thì chất sinh hóa nào tiết ra?
Đáp: - Norepinephrine.
Hỏi: - Đối giao cảm bị tác động thì chất nào được tiết ra?
Đáp: - Acetylcholine.
TÓM KẾT
Đối với thiền sinh đã theo học các lớp Thiền Căn Bản thì đề tài Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền không mới lạ; trái lại, nó có vẻ mới lạ đối
với những vị chưa biết Thiền hay chưa thực hành Thiền hoặc tuy đã thực hành lâu năm mà chưa có kinh nghiệm điều chỉnh hay chữa bệnh tâm thể
của chính mình thông qua phương thức hồi đáp sinh học. [Xin đọc tiếp trang 5]