Bài đọc thêm số 1 - Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền
(Trang 3/6)
KHU DƯỚI ĐỒI
Trong hệ thống Viền não, có nhiều khu vực; mỗi khu vực có một chức năng và vai trò đặc biệt của nó. Trong đó Khu Dưới
Đồi (Hypothalamus) là trung tâm đóng vai trò quan trọng nhất. Chức năng của nó là kiểm soát hệ thần kinh Tự quản và
chuyển "tín hiệu tâm" từ vỏ não do ta khởi lên đến các trung tâm khác trong giữa não. Nó biểu lộ những nét bề ngoài
hay sâu kín của tâm vọng (false mind) và tâm chân (real mind). Thí dụ, khi biểu lộ những xúc cảm buồn, lo, sợ, giận,
tức, bực, những tín hiệu tâm vọng đó liền truyền đến khu Dưới Đồi; khu Dưới Đồi liền truyền tín hiệu tâm xúc cảm đó
đến 4 nơi. Một ngả lên Đồi Thị (Thalamus), 1 ngả đến Giao cảm thần kinh, 1 ngả đi vào Tuyến Yên, 1 ngả đi vào nội
tạng, đặc biệt là tim. Do đó, vui quá độ cũng đưa đến đứng tim, và giận tức quá mức cũng làm ói máu.
Chức năng của Đồi Thị là khuyếch tán tín hiệu tâm xúc cảm đi các vùng ký ức ngắn hạn, dài hạn, và khắp vỏ não.
Khi tín hiệu xúc cảm truyền đến vùng Thân Thọ (Somatic sensory) trên Thùy Đỉnh giữa vỏ não, nơi đây liền truyền đến
hệ Giao cảm thần kinh. Ngay tức khắc, nét buồn kia liền được biểu lộ ra ngoài gương mặt và trong ánh mắt của ta.
Nếu buồn sâu đậm, mắt ta có thể rớm lệ, môi méo, hai má ủ dột, vân vân. Chức năng của Giao cảm thần kinh là tiết
ra chất nước hóa học epinephrine (còn nổi giận thì tiết ra norepinephrine). Cả hai chất này đều gây ảnh hưởng xấu
cho tim mạch, máu, và những cơ quan nội tạng khác như bao tử, gan, thận. Thân sở dĩ mang bệnh nội tạng là do hai
chất này tiết ra quá nhiều. Nhưng hai chất này được tiết ra là do những tiến trình xúc cảm như buồn chán, lo âu, sợ
hãi của tâm dính mắc hay tâm chưa tỉnh ngộ khởi lên.
Như vậy, chính Tâm tạo ra bệnh cho Thân thông qua những chất nước hóa học bên trong hệ Giao cảm thần kinh và bên
trong hệ thống Tuyến nội tiết. Tâm này là tâm vọng. Do tự ngã là chủ thể. Ý niệm "Ta" và "Cái của Ta" xuất hiện trong
đó. Còn tâm chân thì không có xúc cảm/xúc động. Ý niệm "Ta" và "Cái của Ta" vắng mặt. Chỉ có dòng niệm biết không
lời có mặt. Thiền Tông giả lập chủ thể biết đó là "Ông Chủ" (the "Master") hay "Chân Ngã" (the "True Self"). Khi dòng
niệm biết không lời này có mặt, khu Dưới Đồi liền tác động ngược lại. Với thần kinh Tự quản thì nó tác động vào đối
giao cảm thần kinh, làm cho đầu dây thần kinh này tiết ra acetylcholine. Nói chung, tùy theo từng chủ đề dụng công,
khi ta phối hợp với chiêu thức hay kỹ thuật thực hành, và sử dụng niệm biết không lời hay trí năng tỉnh ngộ để điều
hành quá trình dụng công thì các chất sinh hóa học (biochemical substances) làm lợi cho cơ thể sẽ được tiết ra. Thí
dụ, từ tuyến Tùng sẽ tiết ra serotonin, melatonin. Từ tuyến Tụy, tiết ra insulin. Từ cuống não tiết ra acetylcholine,
serotonin, và dopamine, vân vân.
Pháp của Phật và Tổ bao giờ cũng đúng. Chỉ có ta không nắm vững tinh túy Pháp nói lên điều gì và áp dụng sai kỹ
thuật nên đưa đến bệnh tật cho thân và rối loạn cho tâm. Thay vì nắm nghĩa bình dân để thực hành, ta nắm nghĩa hàn
lâm để lý luận, suy luận. Ta sáng tạo thêm từ ngữ vào cốt lõi Phật pháp mà quên đi cốt lõi yên lặng của bậc Thánh...
Chúng ta không học Kinh để làm Pháp sư, không học Luận để làm triết gia, không nghiên cứu Kinh, Luận để xào nấu rồi
biến mình trở thành học giả Thiền.
NHỮNG LIÊN KẾT CHẶT CHẼ
Chính vì thế, khi thực hành thiền, chúng tôi thường giải thích rõ 4 sự liên kết chặt chẽ giữa Tâm, Pháp, Kỹ Thuật
(Chiêu thức = Gimmicks), Não bộ, Hệ thống Viền não. Chúng tôi đặt tên là "Hồi đáp sinh học trong Thiền." Đây là để
khi dụng công, người mới đi vào Thiền biết rõ vì sao thực hành đúng Pháp, đúng kỹ thuật thì đưa đến thân khỏe mạnh,
tâm thanh thản, chữa trị được bệnh nội tạng, bệnh thần kinh. Còn thực hành sai Pháp, sai kỹ thuật thì sẽ đưa đến
những bệnh tâm thể như cao máu, tiểu đường, loét bao tử, trầm cảm, mất ký ức, hoặc bệnh ảo giác về âm thanh, ảo
giác về hình ảnh như bệnh tâm thần phân liệt [5](Schizophrenia).
Pháp của Phật và Tổ bao giờ cũng đúng. Chỉ có ta không nắm vững tinh túy Pháp nói lên điều gì và áp dụng sai kỹ
thuật nên đưa đến bệnh tật cho thân và rối loạn cho tâm. Thay vì nắm nghĩa bình dân để thực hành, ta nắm nghĩa hàn
lâm để lý luận, suy luận. Ta sáng tạo thêm từ ngữ vào cốt lõi Phật pháp mà quên đi cốt lõi yên lặng của bậc Thánh.
Thay vì sử dụng trí năng tỉnh ngộ, ta sử dụng trí năng méo mó... Thay vì tác động thẳng vào Đối Giao Cảm Thần Kinh, ta lại tác động
thẳng vào Giao Cảm Thần Kinh. Thay vì thư giãn và không lời, ta lại theo phương thức tập trung hay tưởng tượng, và có lời, thay vì
chỉ biết, ta lại đề cao nên biết, phải biết. Thay vì dùng trí, những vị đó dùng thức khi dụng công trong 4 oai nghi.
Thay vì duy trì đơn niệm biết, hoặc chỉ biết, thầm nhận biết, tỉnh thức biết, vị ấy chủ trương phải biết, nên biết,
ý thức biết, trí năng biết.
Cho nên, trong việc tu Thiền, nhiều người dễ bị bệnh tâm thể là do những vị đó đã áp dụng sai nguyên tắc tác
động sinh học khi thực hành. Đó là "có lời" tác động khác, "không lời" tác động khác. Không lời là đi vào Đối giao
cảm thần kinh. Có lời mà thiếu tỉnh ngộ thì đi vào Giao cảm thần kinh.
*Chân Đế: Paramārtha (499-569), quê quán ở Ujjayini, người nước Ưu Thiền Ni (Ujjayani), miền Tây Ấn Độ, gốc Bà
la môn, đến Trung Hoa năm 548.
TRỤC DÂY CHUYỀN
Trong não bộ, trong hệ thống thần kinh, và trong các tuyến nội tiết của con người có nhiều chất nước hóa học vừa
làm lợi cho cơ thể mà cũng làm hại cho cơ thể. Khi thực hành đúng pháp, đúng kỹ thuật, ta sẽ tạo ra những tác động
dây chuyền của trục Tánh giác+Hệ thống viền não+Dưới Đồi+Đối giao cảm thần kinh+Tuyến Nội tiết+Cuống não+Vỏ não để
tạo ra sự quân bình cơ thể, giúp cơ thể phát huy những năng lượng sinh học khác. Thí dụ, thân được khỏe mạnh, tâm
cảm thấy sảng khoái, an vui yêu đời, và hài hòa với môi trường chung quanh. Trí tuệ được phát huy vì ký ức được
gia tăng và nhận thức được đúng hướng. Trí năng méo mó không xuất hiện. Nghiệp ác hay bất thiện không xuất hiện
vì Hạnh nhân (Amygdala) không hoạt động.
Nói rõ hơn, trong Hồi đáp sinh học, trục Tánh giác+Hệ thống viền não+Chất sinh hóa học, v.v. đóng vai trò tương
tác lẫn nhau theo nguyên tắc: cái này có, cái kia có. Trong đó vai trò chính là trí năng tỉnh ngộ. Còn cơ chế tuyến
nội tiết chỉ là nơi tiết ra các chất sinh hóa học do kết quả của sự phản ứng dây chuyền tác động giữa tâm và cơ chế
tánh giác; giữa tánh giác và hệ thống viền não, vân vân.
Trong Hệ thống viền não gồm Đồi thị, Dưới đồi, Ký ức dài hạn và Ký ức ngắn hạn. Ngoài ra, phải kể đến các chất
sinh hóa học trong các tuyến nội tiết, như tuyến Tùng và tuyến Yên và một số chất sinh hóa học trong Dưới Đồi và
trên Cuống não. Chất sinh hóa học vừa làm lợi cho cơ thể mà cũng vừa hại cho cơ thể đều có sẵn trong các cơ chế đó.
Do đó, thực hành đúng pháp, đúng kỹ thuật, cơ thể sẽ được khỏe mạnh. Thực hành sai pháp, sai kỹ thuật, cơ thể sẽ
mang bệnh. Đây là điều ta cần thận trọng khi học và khi hành thiền.
Tóm lại, đây là nguyên lý hồi đáp sinh học trong Thiền. Nguyên lý này dựa trên sự áp dụng đúng Pháp, đúng kỹ
thuật thực hành. Nếu áp dụng sai Pháp và sai kỹ thuật, kết quả ta sẽ mang lại nguy hại cho thân-tâm và trí tuệ.
BỐN ĐIỂM CẦN BIẾT
Để có ý niệm rõ về Hồi đáp sinh học trong Thiền, chúng tôi nêu lên 4 điểm. Có biết rõ, ta sẽ không sợ sai lạc khi thực hành.
- Vai trò của Tâm
Điểm thứ nhứt là vai trò của tâm. Tâm này tuy chưa phải là chân tâm, nhưng nó đã tỉnh ngộ và sáng suốt. Có sáng suốt
ta mới nhận ra Pháp nào là pháp của Phật, của Tổ. Pháp nào là pháp không phải của Phật, của Tổ. Pháp nào đi thẳng
vào tánh giác, pháp nào đi vòng quanh theo ý căn và ý thức. Chỉ vì chúng ta tu Thiền, chúng ta phải theo Phật Thích
Ca hoặc theo pháp của chư Tổ. Chúng ta xem đó là chân lý và chúng ta quyết tâm thọ trì chân lý đó. Chúng ta không
đi lang thang trạch pháp.
Cho nên trong việc tu học Thiền, vai trò trí năng tỉnh ngộ rất quan trọng. Nó mở ra khúc quanh mới trong đời tu
tập của ta. Ta nhận ra giá trị của Pháp. Ta sáng suốt. Ta có lòng tin. Ta có cân nhắc suy tư. Ta không còn bị bế
tắc. Ta có khả năng vượt qua các chướng duyên để dấn thân theo Thiền. Ta không đổ thừa tại, bị, bởi, vì, do, mắc,
bận, chưa đủ duyên, nghiệp còn dầy...
Cho nên trong việc tu học Thiền, vai trò trí năng tỉnh ngộ rất quan trọng. Nó mở ra khúc quanh mới trong đời tu
tập của ta. Ta nhận ra giá trị của Pháp. Ta sáng suốt. Ta có lòng tin. Ta có cân nhắc suy tư. Ta không còn bị bế
tắc. Ta có khả năng vượt qua các chướng duyên để dấn thân theo Thiền. Ta không đổ thừa tại, bị, bởi, vì, do, mắc,
bận, chưa đủ duyên, nghiệp còn dầy... Còn không tỉnh ngộ, không sáng suốt, ta thiếu cân nhắc suy tư, thiếu lòng tin,
thiếu cố gắng thực hành, dễ chán nản, dễ bỏ pháp tu mà ta đã chọn từ lúc ban đầu, dễ bị mê hoặc bởi những pháp có
nhiều hấp dẫn giác quan như bùa chú, thần linh, và hình thức bề ngoài. Bởi vì khi tỉnh ngộ, ta nhận rõ giá trị của
những pháp mê tín, dị đoan, và hình thức bề ngoài, chúng không có khả năng đưa ta đến tỉnh ngộ, chuyển đổi nhận
thức, điều chỉnh bệnh tâm thể hay chuyển nghiệp. Ta cương quyết không theo những pháp mê tín dị đoan, và hình thức
bề ngoài đó. Ta chọn Thiền. Ta chọn lối thực hành thiết thực, không hình thức, không từ chương. Ta chọn con đường
đi thẳng vào cơ chế tánh giác trong 4 oai nghi. Ta không theo con đường đi vòng quanh trong 4 oai nghi mà rốt cuộc
cũng chẳng tới nơi ta muốn tới. Chỉ vì con đường đó, tuy cũng là Thiền, nhưng là con đường Thiền theo thế tục. Nó
không khế hợp với Thiền theo Phật và Tổ. Ta sáng suốt để từ bỏ. Ta quyết tâm đi theo Con Đường Trí Huệ của Phật.
Ta xem đây là chân lý và ta quyết tâm tinh cần, tinh tấn dụng công để thể nhập chân lý đó.
Đây là điểm thứ nhứt. Tâm tỉnh ngộ là điều kiện cần thiết trước tiên của người chọn con đường Trí tuệ Tâm linh.
Nó rất quan trọng. Nó đóng vai quyết định sự nghiệp phát triển tâm linh của ta. Chính nó giúp cho ta có đủ lòng
tin để ta cố gắng vượt qua nhiều chướng duyên, tạo điều kiện thuận lợi để tham dự các khóa tu học; vui thích và
tỉnh táo khi nghe pháp, học pháp, chớ không ngủ gật khi nghe pháp; thường xuyên thân cận bạn đạo trong Khóa Tu hay
trong Đạo Tràng, và thường xuyên thân cận thiện tri thức để lắng nghe, học hỏi, trình kinh nghiệm, và thực hành
các pháp đi thẳng vào cơ chế tánh giác. Ta không còn đi trạch pháp chỗ này, chỗ kia nữa. Ta đi vào thực hành. Ta
theo sự hướng dẫn của vị thầy tâm linh có nhiều kinh nghiệm thực hành thiền.
- Vai trò của Pháp
Điểm thứ hai là Pháp. Pháp là chủ đề ngắn gọn do Phật dạy trong Kinh hay do Tổ dạy trong Luận. Nó là tinh túy cô
đọng mà ta đã nắm bắt được, hoặc ta đã nhận ra được ý nghĩa rốt ráo của nó. Rồi ta nương theo tinh túy đó để miên
mật luyện tập hay miên mật thực hành trong 4 tư thế: đi, đứng, nằm, ngồi. Có miên mật luyện tập hay miên mật thực
hành, ta mới đi đến thể nhập được chân lý mà ta vừa mới ngộ đó. Có thể nhập, ta mới có chứng nghiệm chân lý đó như
thế nào trên thân, tâm, và trí tuệ tâm linh của ta. Không thể nhập làm sao ta biết được giá trị của ngộ lý như thế
nào trên thân, tâm, và trí tuệ của ta? Do đó, chứng nghiệm chân lý là phần quyết định tối hậu trong từng giai đoạn
thực hành của người tu Thiền. Nó không phải là điều ta tưởng tượng để đặt ra. Nó chính là điều ta thực sự kinh nghiệm
trên thân, tâm và trí tuệ tâm linh của ta qua sự tác động 1 trong 3 hay 4 tánh của cơ chế tánh giác. Trong Thiền,
những tiến trình chứng nghiệm này được xếp là thân chứng, tâm chứng và trí chứng hay huệ chứng.
Cho nên, người tu Thiền nếu chỉ thông suốt nghĩa lý trong Kinh, trong Luận mà thiếu tự mình chứng nghiệm nghĩa lý đó,
xem như ta chưa trọn vẹn đường tu, dù chỉ ở mức Cấp 1 của Thiền Căn Bản là nhận ra mình có Tánh giác và kinh nghiệm
dòng biết không lời vững chắc trong vòng từ 1 phút đến 2 phút hoặc nhiều hơn nữa trong 1 thời thiền 2 tiếng đồng hồ.
Thí dụ, xuyên qua lời Tổ dạy, ta biết mình có tánh giác--trong Thiền Căn Bản, tánh giác được xem như là chân lý tối
hậu-đây là ta đã ngộ lý. Tương đương với từ "giác ngộ chân lý," chứ chưa phải thể nhập chân lý. Phần giác ngộ này
rất quan trọng. Nó chuyển hướng đời tu tập của ta. Nó giúp ta nhận ra cốt lõi tinh ba Phật pháp vốn dựa trên cơ sở
biết không lời của tánh giác. Ta không còn bị vướng vào lời khi dụng công đến chỗ thâm diệu tối hậu. Sau đó, ta cần
thực hành để có kinh nghiệm rõ ràng tánh giác như thế nào trong thân, tâm và trí tuệ tâm linh của ta.
Cho nên, sau khi ngộ lý xong, ta phải miên mật dụng công để đi đến thể nhập tánh giác. Đó là tánh giác và ý niệm ta
trở thành một thể thống nhất. Phàm tâm mất bóng, chân tâm hiển lộ. "Ông Chủ" thật sự có mặt trong "ngôi nhà 6 căn".
Phong thái nói năng đi đứng của ta không còn dính mắc, không còn tự khen mình chê người, và thần sắc của ta không
còn đen xám như trước nữa.
Nhưng như thế cũng chưa đủ, ta cần phải miên mật thực hành thêm nữa để có kinh nghiệm thể nhập sâu sắc hơn. Thể
nhập càng sâu thì kinh nghiệm tâm linh càng rõ ràng và vững chắc hơn. Thuật ngữ Thiền gọi trạng thái này là chứng
nghiệm hay chứng đạt chân lý.
Với người tu Thiền, điểm quan trọng nhất của việc thực hành thiền là làm sao cho thân và tâm được hài hòa, được cân
bằng với nhau. Thân và tâm không hài hòa thì trong môi trường sống hằng ngày, chắc chắn cá nhân sẽ không thể hài
hòa được với ai, kể cả những người thân thương của mình. Cho nên hài hòa là năng lượng "diệu hữu" của cá nhân. Còn
nếu cơ thể nay đau, mai ốm, tâm tánh bất bình thường: thương người này, ghét người kia, bất mãn người nọ, thì làm
sao ta hài hòa được với ai? Ngay bối cảnh sống trong tập thể nhỏ như Đạo tràng hoặc trong gia đình mà ta cứ thường
xuyên hùng hằng hục hặc với bạn thiền, với người thân, làm sao ta có thể hài hòa được với người khác ngoài xã hội?
Như vậy, nếu muốn kinh nghiệm "diệu hữu" trong những bối cảnh sống khác nhau trong đời sống hằng ngày, tất nhiên ta
sẽ không bao giờ chứng nghiệm được. Chỉ vì bên trong thân, tâm, và trí tuệ của ta đã có tiềm ẩn những thứ bất hài
hòa. Đó là những tùy miên dính mắc, tùy miên si mê, tùy miên đố kỵ, tùy miên sân hận, tùy miên tham lam, tùy miên ích kỷ...
Với người tu Thiền, chúng ta chỉ cần nắm vững nghĩa lý những tinh túy trong bài Kinh hoặc trong bài Luận rồi đưa ra
luyện tập hay thực hành. Vì chúng ta cần thể nhập và chứng nghiệm giáo lý hơn là chỉ ngộ giáo lý. Ngộ mà chưa thể
nhập, chưa chứng nghiệm thì huệ lực khó phát sinh, sáng tạo không có, tâm rộng lượng bao dung không có, thân tâm
khó hài hòa, tập khí/lậu hoặc khó bị cô lập, tâm khó chuyển hóa lâu dài được. Do đó, nhận ra tinh túy của giáo lý
là bước cần thiết lúc ban đầu, còn chứng nghiệm được giáo lý đó trên thân, tâm và trí tuệ tâm linh mới là điều quyết
định sau cùng của người tu Thiền.
Tác dụng của Kinh, của Luận là tạo ra sự mực thước, sự giềng mối hay lề lối, hoặc khuôn phép. Chúng ta kiên nhẫn đi
theo đó, học theo đó, và miên mật thực hành theo đó. Chúng ta không thối chuyển, không sợ mình đi sai tôn chỉ của
Phật Thích Ca hay của Tổ Đạt Ma. Chỉ sợ là ta không tinh cần theo đuổi, không miên mật thực hành hay thực hành
không đúng khớp với trọng tâm lời dạy trong Kinh, trong Luận. Cho nên, khi thực hành, ta cố gắng tránh những định
nghĩa hàn lâm, triết học của nhiều nhà chú giải Kinh, Luận. Những giải thích hay định nghĩa đó tuy cao siêu, nhưng
không thiết thực, không đi vào cốt lõi lời dạy, và qua lối giải thích đó, ta không biết được đầu mối ở đâu để thực
hành. Khi không thực hành được, ta sẽ không bao giờ chứng nghiệm được điều ta tự xem như là "ngộ lý".
Chúng ta là người thực hành. Chúng ta cần kết hợp giữa ngộ lý và chứng nghiệm. Nó là một nguyên tắc quan trọng trong
Thiền. Cả 2 liên kết chặt chẽ với nhau. Có ngộ lý mà chưa chứng nghiệm, cuộc hành trình của ta xem như chưa khởi hành
hay chưa đi.
Chúng ta không học Kinh để làm Pháp sư, không học Luận để làm triết gia, không nghiên cứu Kinh, Luận để xào nấu rồi
biến mình trở thành học giả Thiền. Chúng ta cần lãnh hội kinh luận để đi đến thể nhập tinh túy của bài Kinh, bài
Luận nào mà chúng ta nhận thấy thích hợp với căn cơ và mục tiêu nhắm tới của ta. Nói chung, mục đích ứng dụng Pháp
của Phật hay của Tổ là ta nhắm điều phục tâm để tạo ra sự hoạt hóa cơ thể và mang lại những lợi ích thiết thực cho
thân, tâm và trí tuệ tâm linh. Đây là mục tiêu và nhu cầu của người hành thiền.
Ngoài ra, chúng ta cũng còn cần làm gương cho con em chúng ta nữa. Chúng ta không để cho con em chúng ta hoài nghi
về Giáo lý mà chúng ta đang theo. Chúng ta cần chứng minh cho con em chúng ta thấy và biết rằng đạo Phật là đạo nhắm
mở mang trí tuệ con người, chuyển hoá tâm con người, kiến tạo tình thương và từ bi trong muôn loài chúng sanh...
Ngoài ra, chúng ta cũng còn cần làm gương cho con em chúng ta nữa. Chúng ta không để cho con em chúng ta hoài nghi
về Giáo lý mà chúng ta đang theo. Chúng ta cần chứng minh cho con em chúng ta thấy và biết rằng đạo Phật là đạo nhắm
mở mang trí tuệ con người, chuyển hoá tâm con người, kiến tạo tình thương và từ bi trong muôn loài chúng sanh...
Tóm lại, vì lý do này, khi học và thực hành chủ đề trong Thiền, chúng ta cần nắm vững nghĩa bình dân của chủ đề để
chúng ta luyện tập hay thực hành dễ dàng.
Trong bước đầu, nhận ra rõ ràng giá trị tinh túy của Pháp là điều cần thiết, kế tiếp là phải chứng nghiệm giáo lý đó
qua sự tinh tấn miên mật dụng công. Với người mới tu thiền, Không Dán Nhãn Đối Tượng là kinh nghiệm cần thiết mà ta
cần có. Qua đó, ta sẽ kinh nghiệm được trạng thái có chánh kiến với mọi người chung quanh. Từ lần ta sẽ sống và làm
việc phù hợp theo chánh pháp. Đó là thấy biết như thật. Nội tâm ta sẽ từ lần không còn dính mắc.
- Vai trò của Kỹ Thuật
Điểm thứ ba, khi thực hành, ta phải nắm vững kỹ thuật. Khi nắm vững kỹ thuật, chúng ta sẽ thu ngắn được thời gian
dụng công. Thay vì mất 10 năm mới kinh nghiệm được cái biết không lời của tánh giác, chúng ta có thể mất vài ba
tháng sẽ kinh nghiệm ngay. Chỉ vì chúng ta thực hành thẳng vào cơ chế tánh giác. Chúng ta không sử dụng tư duy biện
luận để giải thích lòng vòng về vọng tâm/chân tâm. Nói chung, chúng ta không thực hành vòng quanh.
Ở lớp Căn Bản có 4 kỹ thuật chính và nhiều chiêu thức. Mỗi kỹ thuật và chiêu thức tuy khác nhau ở cách thực hành,
nhưng tất cả đều xoáy trọng tâm vào tác động đến tế bào não của 1 trong 4 vùng của cơ chế tánh giác. Vì có như thế,
ta mới kinh nghiệm được sự tác dụng sinh học xem như "kỳ diệu" của Thiền đối với đời sống con người.
Lý do là khi cơ chế này bị tác động thì một hệ thống dây chuyền trong trục tánh giác-vỏ não-hệ thống viền não-tuyến
nội tiết vân vân liền bị hoạt hóa. Trong quá trình hoạt hóa này, những chất sinh hóa học bên trong đối giao cảm thần
kinh, bên trong các tuyến nội tiết sẽ tiết ra để chữa bệnh cho thân và chữa bệnh cho tâm, cũng như làm tăng thêm ký
ức và phát huy sự bén nhạy, sự tinh xảo của trí óc. Hồi đáp sinh học dựa trên cơ sở này. Nếu không có tác dụng kỳ
diệu này, Thiền sẽ không bao giờ là dụng cụ hữu ích thiết thực trong cuộc sống con người và các tông phái khác
trong đạo Phật sẽ không bao giờ kết hợp với Thiền. Vì nó hữu ích thiết thực, nên các tông phái khác trong đạo Phật
đã kết hợp với nó. Ngoài ra, có nhiều tôn giáo khác cũng kết hợp với Thiền.
Muốn nắm vững kỹ thuật, chúng ta cần tham dự nhiều lần trong các buổi giảng và hướng dẫn kỹ thuật thực hành. Thiếu
nghe nhiều, thiếu ghi nhận những chi tiết trong các kỹ thuật thực hành, thiếu gần gũi bạn đạo, thiếu thân cận thiện
tri thức, chúng ta có khả năng thực hành sai, hoặc không tinh xảo trong kỹ thuật thực hành.
- Vai trò của Não Bộ
Điểm thứ tư là vai trò Não bộ. Đây là kiến thức Khoa học. Ngày nay học và thực hành Thiền, chúng ta cần trang bị thêm
kiến thức về vai trò của Não. Nó chính là căn cứ của Tâm, của Ý, của Thức và của Tánh giác. Con người hơn các chúng
sanh khác là nhờ có bộ Não tinh vi với hằng trăm tỷ tế bào não (Neurons).
Thông qua tâm phát ra tín hiệu hay truyền đạt những sắc thái cảm xúc hay ý nghĩ, não biểu lộ nhân cách con người, bao
gồm thiện/ác, mê/tỉnh, đạo đức/phi đạo đức ra ngoài hành động bằng lời nói, cử chỉ, thái độ... Không có não, tâm
không thể biểu lộ được những sắc thái (nuances) vọng hay chân ra ngoài thân và lời được. Khi tâm hướng các căn tiếp
xúc đối tượng, tức thì não liền kiến giải những chi tiết liên quan đến đối tượng đó. Vì vậy, khi một phần nào trong
não bị hỏng, tâm tánh, cử chỉ, hành động, và lời nói con người liền bị ảnh hưởng theo. Các căn dù còn nguyên vẹn mà
thái độ vẫn không bình thường được. Những bệnh tâm thể, bệnh uất cảm (stress), bệnh suy nhược thần kinh, bệnh mất ký
ức, bệnh trầm cảm, bệnh liệt rung, bệnh ngu đần, bệnh khen mình, chê người, chấp ngã đều do não gây nên. Con người
được khỏe mạnh, da dẻ hồng hào, trí năng sắc bén, trí tuệ sáng suốt cũng do chính não đóng vai trò. Chung qui chỉ vì
não có nhiều chức năng liên hệ đến tay chân, lời nói, học hỏi, nhân cách, sự thông minh, trí tuệ bình thường, trực
giác, và siêu trực giác. Nó cũng chứa nhiều hệ thống chất hóa học bên trong nó. Khi một phần nào trong não bị hỏng,
nhân cách con người liền bị ảnh hưởng theo. Cụ thể như những người bị bệnh tâm thần phân liệt [5], bệnh tai biến mạch
máu não, bệnh liệt rung, bệnh trầm cảm, bệnh mất trí nhớ. Trong trường hợp này, tâm không thể điều khiển được não để
ra lệnh não hoạt động theo ý muốn của tâm.
Nói chung, khi tâm thường xuyên căng thẳng như lo âu, sợ hãi, bực bội, nghi ngờ, não sẽ tiết ra các chất hóa học để
thích nghi hóa với tình trạng căng thẳng đó. Nếu càng tiết ra nhiều chất hóa học phù hợp với tình trạng căng thẳng,
các chất hóa học này sẽ làm hại những cơ quan bên trong thân như tim, thận, gan, máu, và tế bào não. Những bệnh tâm
thể là do chất hóa học norepinephrine tiết ra thường trực và quá nhiều trong giao cảm thần kinh hay trong cuống não.
Chất này theo máu đi vào ruột thượng thận, nó làm cho ruột thượng thận tiết ra epinephrine và cortisol. Cortisol lại
đi theo máu lên não, nó bó chặt tế bào não làm cho ta mất trí nhớ và bị bệnh liệt rung. Cuối cùng, ta khả năng bị
bệnh ung thư (xem thêm Phụ Lục).
Như vậy, nếu tâm thường xuyên thư giãn, não sẽ tiết ra các chất hóa học khác làm lợi cho những cơ quan bên trong thân
như tim, thận, gan, máu, và tế bào não. Thí dụ như các chất acetylcholine, dopamine, serotonin, và melatonin.
Do đó, tâm căng thẳng, tạo ra bệnh cho thân. Rồi cuối cùng người cảm nhận những sự đau đớn, mệt mỏi, bệnh tật của
thân lại là Tâm. Cho nên chúng tôi thường nói: "Tâm như Nhạc trưởng. Nó điều khiển sáu tay chơi nhạc là Mắt, Tai,
Mũi, Lưỡi, Thân, Ý để hòa tấu những điệu nhạc lên bổng xuống trầm hay du dương trong cuộc đời. Cuối cùng, chính tâm
là người thưởng thức những khúc nhạc do nó sáng tạo và điều khiển sáu tay chơi nhạc." Đây gọi là Hồi đáp sinh học
trong Thiền. [Xin đọc tiếp trang 4]