Bài đọc thêm số 1 - Hồi Đáp Sinh Học Trong Thiền

(Trang 2/6)          

ĐỊNH NGHĨA - HỒI ĐÁP SINH HỌC LÀ GÌ?
"Hồi đáp" có nghĩa sự đáp ứng trở lại. Thí dụ, khi hướng dẫn thiền sinh học và thực hành các kỹ thuật trong Thiền, muốn biết thiền sinh thu thập được bao nhiêu, chúng tôi đưa ra nhiều câu hỏi trắc nghiệm để lượng giá trình độ tiếp thu của họ tới đâu và sai, đúng như thế nào. Có qua thì phải có lại. Có giảng thì phải có trắc nghiệm. Đó là phương pháp "hồi đáp".

Ngoài ra, khi làm điều gì, ta sẽ đạt được sự đáp ứng trở lại về điều đó. Giống như ngửa mặt phun nước, nước liền rơi vào mặt mình. Trong Đạo Khổng cũng nói: "Ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình. Hàm huyết phún nhơn, tiên ô tự khẩu." Trong Đạo Phật, gọi là "quả báo-vipāka." Đó là kết quả, hiệu quả, hậu quả của hành động hoặc tốt, hoặc xấu do ta đã tạo ra hay vừa mới tạo ra.

Những sự đáp ứng nói trên, cũng được gọi là "hồi đáp." Như vậy, hồi đáp có nghĩa kết quả hoặc tốt hoặc xấu về điều gì do hành động bằng lời nói, cử chỉ, và ý nghĩ của ta tạo ra đối với ta hay đối với người khác. Nó là một tiến trình đáp ứng trở lại.

Còn "sinh học" là phần tác dụng bên trong cơ thể do các chất hóa học trong hệ thần kinh, trong tế bào não, và trong các tuyến nội tiết tiết ra khi ta thực tập chủ đề nào đó trong Thiền. Những chất hóa học này thuộc sinh học vì những chất đó vốn ở bên trong cơ thể còn sống của người hành thiền được tiết ra, qua sự dụng công. Những chất đó có khả năng gây hại hay làm lợi cho cơ thể. Tác dụng những chất hóa học được tiết ra này gọi là "hồi đáp sinh học." Như vậy, "Hồi đáp sinh học trong Thiền" là thông qua tâm thực hành các chủ đề (Pháp) do Phật hay Tổ dạy, cơ chế não bộ sẽ bị kích thích để tiết ra các chất nước hóa học làm lợi hay hại cơ thể. Làm lợi là thực hành đúng Pháp, đúng kỹ thuật. Làm hại là thực hành sai Pháp, sai kỹ thuật.

Sai thì đưa đến bệnh cho tâm, cho thân, và cho trí tuệ. Đó là tâm tánh không bình thường; thân thì bị bệnh tim mạch, bệnh tiểu đường, bệnh liệt rung (Parkinson) [1], bệnh trầm cảm [2], bệnh nhức nửa đầu [3], bệnh mất ký ức (Alzheimer) [4], trí tuệ không sáng, trí năng méo mó...

Đúng thì đưa đến thân khỏe mạnh, chữa được những thứ bệnh cao máu, tiểu đường, loét bao tử, suy nhược thần kinh, tinh thần không còn bị căng thẳng, thần sắc trong sáng, da dẻ hồng hào, tâm tánh bình thường, ký ức tốt, trí tuệ sáng suốt...

NGUYÊN LÝ HỒI ĐÁP SINH HỌC TRONG THIỀN: NGUYÊN LÝ TÁC ĐỘNG - TÁC DỤNG
Trong Thiền, chức năng của Tâm đóng vai trò quan trọng trong việc thực hành thiền. Nó có khả năng mang lại sức khỏe hay bệnh tật và trí tuệ sáng suốt hay tâm trí mờ mịt cho người thực hành. Chỉ vì khi thực hành, Tâm phải dựa vào Pháp và kỹ thuật thực hành. Khi Tâm khởi động, xung lực thần kinh liền truyền thẳng đến những nơi liên hệ đến niệm do Tâm phát ra. Như vậy, dựa vào Pháp và kỹ thuật, chính Tâm trực tiếp tác động đến Não. Não liền kiến giải những xung lực tín hiệu do Tâm truyền đến. Sau đó, nó trực tiếp truyền xung lực niệm do nó kiến giải đến những vùng liên hệ khác ở vỏ não và trong não.

Ở vỏ não thì có 3 vùng:

  1. Vùng tiền trán bán cầu não trái thì có suy nghĩ, tính toán và trí năng biện luận.
  2. Vùng tiền trán bán cầu não phải thì có ý thức phân biệt. Đây là 2 vùng thuộc vọng tâm.
  3. Còn vùng thứ ba là phía sau bán cầu não trái là vùng tánh giác.

Riêng bên trong não thì có hệ thống Viền não, Cuống não, và Tuyến Nội tiết. Hệ thống Viền não bao gồm khu Đồi Thị (Thalamus), Dưới Đồi (Hypothalamus), Ký ức dài hạn, Ký ức ngắn hạn, hệ thống Thần kinh tự quản. Bên trong cấu trúc của những vùng này đều có chứa chất nước hóa học. Những chất nước hóa học này đều có hai công dụng: làm lợi hoăc gây hại cho thân, tâm, và trí tuệ.

Tùy theo mức độ nội dung phát ra tín hiệu xung lực của Tâm, các chất nước hóa học có lợi hay có hại cho cơ thể sẽ được tiết ra.

TÁNH GIÁC
Khi ta thực hành thiền đúng Pháp, đúng kỹ thuật, tác động của nó sẽ tạo ra tác dụng thân-tâm hài hòa và trí tuệ tâm linh phát huy. Đây là trí tuệ tự phát. Nó thuộc trí siêu thế. Nó không phải do trí phàm phu là ý thức hay ý căn, hoặc trí năng đóng vai trò mà do tiềm năng giác ngộ bên trong các cơ chế tánh giác phát ra. Chỉ vì những phương thức thực hành của Thiền, cơ bản là ta dùng chủ đề để tác động trực tiếp vào khu vực tánh giác. Đây là vùng tạo ra những tác dụng "kỳ diệu" đối với thân-tâm và trí tuệ tâm linh con người.

Tánh giác là thuật ngữ trong Thiền Tông, trong Phật giáo Nguyên Thủy, Phật gọi là trí Vô Sanh, trong Phật giáo Phát Triển thuộc Hệ Duy Thức, ngài Chân Đế* (Ấn Độ) gọi là Bạch Tịnh Thức. Nó là cái biết không có ganh đua. Trong Khoa học gọi nó là vùng Giác tri Tâm linh (Gnostic Sprituality) hay vùng Kiến giải tổng quát (General Interpretative Area). Chúng tôi gọi nó là vùng Biết Không Lời. Tức là chỉ có sự nhận biết mà không có lời nói thầm kèm theo trong đó.

Khi mắt thoáng nhìn thấy toàn bộ khung cảnh trước mặt, ta tuy nhận biết rõ ràng tất cả đối tượng mà trong não không có lời nói thầm từng đối tượng. Đó là cái lóe sáng biết đầu tiên không lời và đồng bộ của Tánh giác.

Thí dụ, khi mắt thoáng nhìn thấy toàn bộ khung cảnh trước mặt, ta tuy nhận biết rõ ràng tất cả đối tượng mà trong não không có lời nói thầm từng đối tượng. Đó là cái lóe sáng biết đầu tiên không lờiđồng bộ của Tánh giác. Ngay khi đó, tâm ta hoàn toàn an tịnh. Nhưng ta không duy trì được niệm biết này lâu dài, chỉ vì ta chưa làm chủ được cơ chế nói thầm trong não, nên niệm nói thầm sau đó liền khởi lên.

Khu này nằm sau bán cầu não trái. Danh từ khoa học gọi là "The General Interpretative Area" hay "Gnostic Area." Chức năng của nó là kiến giải tất cả đối tượng của giác quan mà không có Ta (tự ngã) can thiệp vào. Trong sơ khởi, sự nhận ra đối tượng của nó chỉ bằng niệm thầm nhận biết. Khi nó có mặt, phiền não, sân hận, lo âu, sợ hãi, tranh chấp, ganh đua, hận thù không có mặt. Khi nó có mặt, tâm người hành thiền trở nên an tịnh, trầm lặng, và thanh thản. Khi nó có mặt, trí năng không méo mó, xúc cảm/xúc động không có. Theo đó tất cả năng lượng sinh học (Bioenergies) bên trong cơ thể được khai triển đồng bộ. Tác dụng sinh học (Bioaction) trong Thiền dựa trên sự có mặt của nó. Lý do, khi tánh giác có mặt, cùng một lúc vỏ não, khu Dưới Đồi bị tác động. Qua đó hệ thống Đối giao cảm thần kinh, hệ thống tuyến Nội tiết đồng bộ bị tác động. Thân khỏe mạnh, tâm an lạc nhờ dựa trên những sự tác động dây chuyền này giữa cơ chế Tánh giác, khu Dưới đồi, tuyến Yên, và tuyến Nội tiết.

Từ trên nguyên lý này, cho thấy Tánh giác đóng vai trò quan trọng trong việc chữa trị hay điều chỉnh bệnh tâm thể. Bởi vì khi nó có mặt, thần kinh ta không căng thẳng. Lo âu không có. Sân hận không có. Sợ hãi không có. Dính mắc không có. Đố kỵ không có. Chỉ có sự nhận biết không lời. Đó là sự nhận biết rõ ràng mà không bị dính vào hai bên: thương/ghét, lỗi/phải, thiện/ác, chánh/tà...

Khi Tánh giác có mặt, Đối Giao Cảm Thần Kinh bị tác động, làm tiết ra chất nước hóa học acetylcholine. Chất này làm hạ huyết áp, hạ máu mỡ, hạ đường trong máu, cơ thể nhẹ nhàng, linh hoạt, ký ức được tăng cường... Đối giao cảm cũng tác động đến tuyến tụy làm tiết ra insulin, giúp cho bệnh tiểu đường giảm từ lần đi đến quân bình.  [Xin đọc tiếp trang 3]