Bài đọc thêm số 2 - Hệ Thần Kinh Tự Quản

(Trang 5/6)                              

CHÚ THÍCH

  1. Thần kinh dẫn truyền (Neurotransmitters) = Nhóm chất nước hóa học của tế bào thần kinh dùng để truyền đạt thông tin hay mang tín hiệu từ tế bào thần kinh này đến tế bào thần kinh khác trong não. Nó hoạt hóa hầu hết tế bào não (neurons). Khả năng cảm thấy, cảm nhận, suy nghĩ, di động, hành động, và phản ứng đều tùy thuộc vào sự cân bằng hay mất cân bằng của thần kinh dẫn truyền trong hệ thống thần kinh.

    Tùy theo cấu trúc chất nước hóa học căn bản bên trong tế bào thần kinh, các nhà não học xếp nhiều loại thần kinh dẫn truyền: Norepinephrine, Epinephrine, Acetylcholine, Dopamine, Serotonin, và Histamine.

    Nhưng phần lớn những cơ quan của cơ thể nhận hai chất acetylcholine và norepinephrine. Đó là thông qua sự biểu lộ 1 trong 2 sắc thái vọng tâm và chân tâm, duới sự có mặt của "tự ngã thanh tịnh" hay "tự ngã dao động."

  2. Norepinephrine: Chất nước hóa học được tiết ra từ tận cùng dây Giao cảm thần kinh và cũng được mang từ thùy trước tuyến yên, nơi đây nó làm thoát ra chất nước hóa học tên "ACTH" (Adrenocorticotrophic hormones). Chất này là một loại hormone (nội tiết tố) có chức năng kéo dài đáp ứng uất cảm (stress). Khi tiết ra, nó theo máu, truyền đến ruột thượng thận (Adrenal medulla). Nơi đây, ruột thượng thận tiết ra thêm norepinephrine và epinephrine. Cả hai chất này làm tim đập nhanh, máu tăng áp suất. Ở cuống não, nhân lục (locus coeruleus) cũng có sản xuất nhiều norepinephrine. (Xem hình phải)

    Nó cũng có từ trong ruột tuyến thượng thận. Khi tiết ra, nó theo máu, truyền đến trung khu thần kinh, tạo ra sự rối loạn tâm, đặc biệt là bệnh buồn chán cực độ, gọi là bệnh "trầm cảm." Khi sân hận, cáu kỉnh, bực tức, tỉnh táo, tỉnh thức ý thức, từ đầu dây thần kinh tận cùng của Giao cảm thần kinh, norepinephrine được tiết ra.

    Chức năng của norepinephrine (NE):
    • Làm tăng chất béo trong máu;
    • Gây ra rối loạn tâm;
    • Nếu quá nhiều NE, có khả năng đưa đến bệnh trầm cảm (depression) và bệnh mất khả năng xét đoán: khi vui, khi buồn quá mức, đôi khi có những ảo giác phô trương về cá nhân mình có những tài năng đặc biệt nào đó, gọi là loạn tâm thần hưng cảm (manic-depressive psychosis).
    • Ngoài ra, nó không những làm cho huyết áp nâng cao mà còn làm cho tĩnh mạch co thắt. Nhưng nếu tiết ra ít, nó sẽ giúp ích cho việc học được phát triển và ký ức hoạt động tốt.

  3. Epinephrine: Chất nước hóa học được tiết ra từ bên trong ruột tuyến thượng thận (chất khác là norepineprine) trong việc đáp ứng tín hiệu từ Giao cảm thần kinh của hệ thần kinh tự quản. (Ruột tuyến thượng thận tiết ra khoảng 75-80% là epinephrine, số còn lại là norepinephrine).
    Nguyên nhân Epinephrine tiết ra do:
    • Đáp ứng Uất cảm (Stress) như căng thẳng thần kinh về công việc gì;
    • Do tập luyện quá sức chịu đựng của cơ thể;
    • Do xúc cảm sợ hãi và lo âu;
    • Do đáp ứng trước tình huống nguy kịch làm căng thẳng Giao cảm thần kinh.
    Nhiệm vụ:
    • Epinephrine tác động cơ tim (cardiac muscle). Làm cho nhịp tim tăng: đập nhanh hay hồi họp. Nếu quá nhiều epinephrine tiết ra, nó có khả năng gây trụy tim (cardiogenic shock). Đây là trạng thái máu từ tĩnh mạch trở về tim bị giảm đột ngột. Vì vậy, khi sợ hãi xuất hiện, epinephrine liền tiết ra nhiều và làm cho tim đập nhanh hơn, mặt xanh, có cảm giác tay chân lạnh.
    • Khi sân hận cả hai chất epinephrine và norepinephrine đều tiết ra. Cả hai chất này đều là chất béo (lipid), tạo ra máu mỡ. Khi sợ hãi và lo âu, hoặc có trạng thái tâm lý như chạy trốn điều gì, cơ thể con người bị tiêu hao năng lượng.
    • Epinephrine từ ruột thượng thận hoạt hóa số lượng cần thiết cho sự điều chỉnh bên trong trạng thái tâm lý xúc cảm gây nên. Nó đưa đến thân nhiệt tăng, đường trong máu xuống thấp mức bình thường, thở ngắn.
    • Nếu người lo âu hay hoảng sợ cảm thấy cần được giúp đỡ để điều chỉnh hoàn cảnh đang lâm vào tình trạng nguy kịch, thần kinh họ vẫn còn căng thẳng, nhưng nếu họ được giúp đỡ hay giải quyết được tình trạng khốn khó, thần kinh bắt đầu được cân bằng. Bằng phương pháp Thở Hai Thì, ta có thể tạo ra sự cân bằng thần kinh ngay tức khắc. Qua đó, huyết áp sẽ hạ, máu mỡ hạ, đường trong máu hạ, và cuối cùng đường trong máu, máu cao, và máu mỡ sẽ trở lại bình thường.
      Tiêu hóa dừng lại; đường vào trong máu; máu có thể trở thành cục nghẽn (clot)

  4. Acetylcholine (ACh). Chất này được tiết ra từ nhiều nơi trong cơ thể. Nó là chất tổng hợp của 2 chất cholineacetylcoenzyme A. Nó có trong tế bào não vùng vận động ở vỏ não và đầu dây tận cùng của Đối Giao cảm thần kinh. Đặc biệt, acetylcholine cũng được tiết ra từ Giao cảm thần kinh để nó kích thích tuyến mồ hôi. Ngoài ra, ở giữa não thuộc Đồi Thị, như Hạt nhân Vách Trong (Medial Septal Nucleus), và Dưới Đồi, như Hạt nhân Nền ("basal nucleus"), và Hạch Phức Hợp ở vòm Cầu Não (Pontomecencephalo-tegmental complex) cũng có chứa ACh.
    (Xem hình phải)
    Chức năng của acetylcholine:
    • Phục hồi ký ức hay tăng cường ký ức và học hỏi. Bệnh từ lần mất trí nhớ, chức năng trí năng bị giảm, và năng lực nhận thức từ lần kém đi, quen gọi là bệnh "Alzheimer" là do thiếu acetylcholine ở vỏ não; trái lại, quá nhiều cortisol, đưa đến mất ký ức.
    • Trí năng bén nhạy.
    • Cơ thể linh hoạt, cơ xương mạnh khỏe.
    • Tăng cường đường tiểu, tiện.
    • Giảm áp suất ở bệnh mắt (Glaucoma).
    • Chữa được huyết áp cao.
    • Chữa được bệnh co thắt khí quản, gây ra khó thở.

       [Xin đọc tiếp trang 6]