Bài đọc thêm số 2 - Hệ Thần Kinh Tự Quản

(Trang 4/6)

VAI TRÒ CỦA HỆ ĐỐI GIAO CẢM

Đối giao cảm hoạt động trong tình trạng không căng thẳng. Đôi khi nó được gọi là hệ thống "nghỉ ngơi và tiêu hóa." Lý do là hoạt động chính của nó là tiêu hóa và bài tiết phân và nước tiểu. (Điều này giải thích vì sao nghỉ ngơi sau bữa ăn là điều tốt nhất.) Hoạt động của nó được minh họa tốt nhất trong một người nghỉ ngơi sau bữa ăn chính và xem báo. Vì thế nó được xếp vào hệ thống Trầm Lặng. Khi "tâm ba thời" (gồm quá khứ, hiện tại và tương lai) không khởi, chỉ có "tâm ở đây và bây giờ" thì nó có mặt.

Nó làm chậm nhịp tim và giảm sức co thắt tim; nhịp tim và nhịp thở được điều hòa ở mức độ bình thường. Áp suất máu giảm, đi đến bình thường; máu đưa nhiều vào đường dạ dày ruột non làm hoạt hóa tiêu hóa thức ăn; hoạt hóa tuyến nước bọt; máu bơm lên não nhiều; da ấm; con ngươi co thắt lại; bảo vệ hệ thống miễn nhiễm.

Đối giao cảm phụ trách trạng thái yên lặng và thư giãn của tâm. Nói theo ngôn ngữ Thiền, nó chịu ảnh hưởng trí năng tỉnh ngộ, biết không lời, thầm nhận biết, tỉnh thức biết, tuệ trí không lời, nhận thức không lời, chân tâm, tánh giác hay "Ông chủ." Đối với kinh nghiệm tâm linh, nó đóng vai trò chính. Thí dụ, bằng những phương thức Thiền Định hay Thiền Huệ, ta có khả năng làm cho tâm trở nên yên lặng trong trạng thái Chỉ (Samatha) hay tâm định vững chắc, trong trạng thái Định (Samādhi).

Ngoài ra, trên phương diện kinh nghiệm tôn giáo, bằng sự tụng kinh, gõ mõ, trì chú, cầu nguyện, lần tràng hạt, niệm danh hiệu Phật, từ một người đến nhiều người cùng tụng trong một lúc, Đối giao cảm cũng bị tác động. Kết quả của sự tác động này giúp cân bằng chức năng thần kinh Tự quản. Chỉ vì trong lúc đó nội tâm người thực hành hoàn toàn không bị căng thẳng mà an tịnh. Trong trường hợp này tuy có niệm được phát ra, nhưng niệm đó không tác động trí năng méo mó, ý thức phân biệt, hoặc suy nghĩ tính toán. Trái lại, nó chỉ là một loại niệm với nhịp điệu đều đặn mà không mang ý nghĩa khêu gợi nội dung xung đột. Do đó, nó không tạo ra sự kích thích Giao cảm thần kinh mà kích thích Đối giao cảm.

Khi Đối giao cảm hoạt động, đưa đến đầu dây thần kinh tiết ra acetylcholine. Tác dụng của chất nước hóa học này làm cho áp suất máu, nhịp tim, và nhịp thở được điều hòa dưới mức độ bình thường; đường dạ dày ruột non hoạt hóa tiêu hóa thức ăn và da ấm; mắt khép lại, con ngươi co thắt lại, nước bọt chảy ra; trí nhớ phục hồi, trí năng linh hoạt, cơ thể nhẹ nhàng.

VAI TRÒ CỦA GIAO CẢM

Hệ Giao Cảm thường chỉ cho hệ thống chiến đấu hay tháo chạy ("fight-or-flight"), hoảng sợ (fright) và tình dục. Nó chịu ảnh hưởng của ý căn, trí năng, và ý thức. Trên nguyên tắc, hệ Giao cảm chịu trách nhiệm điều hòa nhiệt độ, thiết lập thái độ đối xử và gây hấn, giãn con ngươi, làm lông tóc dựng đứng và kiểm soát sự phân phối máu khắp cơ thể bằng cách giãn hay căng mạch máu. Khi một người hoạt động, nó phân phối máu để cơ thể và tứ chi nhận nhiều chất dinh dưỡng. Khi cơ thể hoạt động, hệ Giao cảm tác động tuyến mồ hôi làm tiết ra mồ hôi.

Nó cũng đóng vai trò biểu lộ tâm lý xúc cảm ngấm ngầm, ray rứt ("tùy miên"), những nỗi thống khổ, lo âu, sợ hãi, kinh hoàng, và căng thẳng thần kinh như xem phim ma, phim khủng bố, hội ngộ người yêu, sau nhiều năm xa cách, những trạng thái tỉnh táo quá mức, vui quá mức và đáp ứng những tình trạng khẩn cấp. Đặc biệt, khi một người thường xuyên lo âu và sợ hãi về điều gì, tuyến ức sẽ bị teo lại, đưa đến hệ miễn nhiễm bị hư.

Khi thường xuyên tập trung sự chú ý quá mức vào đối tượng, khi nổi cơn giận, bực tức, hoặc cáu kỉnh, phẫn uất, hay gây sự với người khác, mức độ norepinephrine tiết ra nhiều. Trong lúc đó sợ hãi, kinh hoàng, lo âu, xúc động thì epinephrine tiết ra. Năng lực của nó là chuẩn bị cho cơ thể hành động hay đối phó với vấn đề nghiêm trọng nào đó. Nó liên kết với não và tuyến thượng thận. Nhưng nó nhận tín hiệu từ Dưới Đồi. Dưới Đồi nhận tín hiệu từ ý căn, trí năng, hay ý thức. Nó hoạt động khi chúng ta bị kích thích hay đương đầu với tình trạng khẩn cấp hoặc nguy cơ. Tim đập nhanh; thở gấp hơn, sâu; huyết áp tăng; căng cơ bắp; da lạnh, đổ mồ hôi; và con ngươi giãn ra đó là dấu hiệu vận động của hệ giao cảm. Dấu hiệu này nếu thường trực kéo dài, đưa đến sự mất quân bình cơ thể, tạo ra nhiều chứng bệnh cho cơ thể như mất ngủ, cao máu, mệt mỏi, tim mạch, táo bón, và đặc biệt là tăng độ đường nhiều trong máu, cuối cùng đưa đến bệnh tiểu đường, bệnh suy nhược thần kinh, bệnh tim mạch, bệnh đường ruột.

TÓM KẾT

  1. Tự quản có nghĩa tự quản trị. Nó được hiểu là hệ thần kinh "độc lập." Hệ thần kinh Tự quản cung cấp liên tục và tự động kiểm soát những hoạt động nội tạng, điều hợp những chức năng bình thường của hệ thống tim mạch, tiêu hóa, bài tiết và tái sản xuất mà không cần sự cố gắng của ý thức.

  2. Được gọi là "tự quản" vì phần lớn những chức năng của hệ thần kinh này ngoài sự kiểm soát có ý thức của con người. Trong khi chúng ta có thể bằng ý muốn để kiểm soát cơ xương, trái lại, bằng ý chí để kiểm soát cơ bao tử và cơ tim thì không đạt được điều này. Phần này do thần kinh tự quản phụ trách.

  3. Tuy nhiên, hệ Thần kinh Tự quản luôn luôn bị tác động bởi Dưới Đồi (Hypothalamus). Và Dưới Đồi bị ảnh hưởng bởi 1 trong 3 Sắc Thái Biết: (1) Biết của Thức, (2) Biết của Ý, và Biết của Giác. Đây là điều chúng ta cần lưu ý. Do đó, bằng những phương pháp trong Thiền và kết hợp với kỹ thật thực hành, ta có khả năng kiểm soát đuợc hoạt động của hệ Giao Cảm Thần Kinh, làm cho hệ Đối Giao Cảm hoạt động tốt hơn. Qua dó, ta sẽ ra giá trị của Thiền đối với đời sống con người.

  4. Hệ Thần Kinh Tự Quản gồm tất cả tế bào thần kinh mang thông tin giữa hệ thần kinh trung ương và tất cả cơ quan bên trong cơ thể (các tuyến và cơ trơn như tim, và hệ thống tiêu hóa).

    Nó gồm 2 nhánh: Giao cảm và Đối giao cảm. Cả 2 phần này hoạt động hoàn toàn trái ngược nhau, nhưng cả hai tham dự trực tiếp vào việc kiểm soát, điều hòa, và hợp nhất hoạt động cơ trơn, cơ tim và các tuyến trong cơ thể. Nó cần thiết cho những chức năng như thở và bảo đảm sự tuần hoàn máu. Nhưng nó cũng quan trọng trong kinh nghiệm khác nhau của các sắc thái xúc cảm.
    Sơ đồ Hệ Thần Kinh Tự Quản
    Acetylcholine (ACh) là thần kinh dẫn truyền chính trong Đối giao cảm thần kinh. Trong lúc đó Norepinephrine (NE) là thần kinh dẫn truyền chính của Giao cảm thần kinh. Cả hai đối nghịch nhau.

  5. Giao Cảm bận rộn, hoạt hóa cơ thể khi bạn chiến đấu hay nổi sân, lo âu hay sợ hãi, xúc cảm mãnh liệt hay uất cảm (stress). Tác dụng của nó là làm tiêu hao năng lượng. Trong kinh nghiệm tranh chấp với đời, tranh chấp với đạo, nó đóng vai trò chính. Trong nỗ lực tối đa hay cố gắng tối đa để làm việc gì, hoặc xem thân này như chết rồi để dồn hết nỗ lực vào việc dụng công hành thiền, thì nó cũng đóng vai trò chính. Đó là nó tiết ra chất nước hoá học norepinephrine để kích thích ruột tuyến thượng thận. Càng kích thích, ruột tuyến thượng thận càng tiết ra 2 chất nước hóa học NE và EN. Cuối cùng đưa đến áp suất máu tăng, nhịp tim đập nhanh; hệ thống tuần hoàn máu đi lệch hướng từ bộ phận tiêu hóa đến não và cơ bắp; chất máu mỡ tăng, gan không giữ đường được; đưa đến lượng đường trong máu tăng và cuối cùng ta bị tiểu đường bị bệnh uất cảm (Stress), và những thứ bệnh tâm thể khác như cao máu, tiểu đường, liệt rung, mất ký ức, trầm cảm, vân vân.

    Giao cảm mang tín hiệu nói cho cơ thể biết là phải chuẩn bị để đối phó với tình trạng nguy cơ sắp xảy ra, để sẵn sàng hành động nhanh chóng hay để tích cực chống trả lại điều gì hoặc phản ứng lại những điều do ngũ quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, da) thu vào. Trong sự đáp ứng các thông tin từ giao cảm thần kinh, tim đập nhanh, thở nhanh, con ngươi mở rộng, và bao tử không làm việc (ngưng tiêu hóa, ăn không tiêu). Giao cảm cũng nói cho hệ nội tiết bắt đầu bơm chất nước hóa học vào dòng máu để tăng cường sức mạnh phản ứng của các sắc thái tâm hành hay tâm sở dưới dạng khẩn trương.

    Trong phần lớn những tiến trình sinh lý cơ thể đều do hệ giao cảm thần kinh đóng vai trò phân phối và tham dự khắp cơ thể. Lý do là sợi thần kinh Giao cảm liên kết với từng cơ quan nội tạng như tim, cuống phổi, bao tử, thận, tuyến thượng thận, ruột...Nó cũng liên kết với tuyến mồ hôi, mạch máu ở phần ngoại biên cơ thể. Chính vì thế nó cũng chịu phần nào trách nhiệm gây ra bệnh tật cho nội tạng, thí dụ như loét bao tử, cao máu, ung thư. Nhưng ngược lại, chính nó có khả năng điều chỉnh bệnh nội tạng tức thời và lâu dài, như hạ huyết áp, chữa tiêu chảy, giảm loét bao tử, trừ hen suyễn, cảm cúm... nếu ta biết cách sử dụng nó trong việc Thở chữa bệnh theo Khí công.

  6. Đối Giao Cảm cũng liên lạc cùng cơ quan như Giao Cảm, nhưng nó gây ra hiệu ứng trái ngược, thay vì gây hại, nó làm lợi cho nội tạng; thay vì tiêu hao, nó bảo tồn năng lượng. Nó làm cho cơ thể nghỉ ngơi sau khi căng thẳng thần kinh. Nó phục hồi sức khỏe cho cơ thể. Trong kinh nghiệm tôn giáo qua trạng thái tụng kinh, trì chú, niệm Phật, cầu nguyện, với nhịp điệu đều đặn và kinh nghiệm tâm linh, nó đóng vai trò chính. Nó làm cho nhịp tim đập bình thường, cơ bao tử thư giãn, tiêu hóa bình thường, thở chậm xuống. Khi nó hoạt động, con ngươi thu nhỏ lại, mắt tự động khép-mở, nước bọt chảy nhiều và loãng. Nó tiết ra ACh để chống lại NE và EN. Nó bảo tồn năng lượng và nhiên liệu cho cơ thể. Nhờ thế, máu mỡ và đường trong máu được hạ thấp xuống.

  7. Tuy đối nghịch với nhau: một tĩnh, một động; hễ hệ này tăng thì hệ kia giảm, nhưng cả hai hệ giao cảm và đối giao cảm đều tương tác với nhau trong hoạt động đều đặn hằng ngày của con người. Trái lại, nếu không ý thức đúng vai trò của riêng hai hệ Giao cảm và Đối Giao cảm, ta có thể tham dự vào những hoạt động làm tăng cường sự hoạt động thường trực của hệ GC trong trạng thái tỉnh táo quá mức. Kết quả ta sẽ bị bệnh tâm thể hay bệnh uất cảm do chất nước hoá học được tiết ra từ Giao cảm thần kinh. Thí dụ, khiêu vũ, chạy bộ đường dài, bơi lội đường xa, cử tạ, làm việc bằng trí óc hay tay chân quá sức. Đặc biệt trong khi thực hành thiền, nếu ta cố gắng quá mức vào chủ đề dụng công như đì thân qua cách điều thân, đì tâm qua cách tập trung tư tưởng vào đề mục đến độ căng thẳng thần kinh (như mèo rình chuột) cũng đưa đến bị bệnh tâm thể, vì ta đã vô tình kích thích hệ Giao cảm thần kinh.

    Có nhiều mức độ kiểm soát và hợp nhất bên trong cột sống và cuống não. Phản ứng nội tạng trong cột sống và phía dưới cuống não cung cấp đáp ứng tự động để kích thích riêng biệt có thể ngăn chận hay làm dịu, hoặc làm cho dễ dàng là do những trung tâm cao cấp bên trong giữa não, đặc biệt là Dưới Đồi, tức Hypothalamus. Trong đó vai trò chính là Tự ngã/Ta/Tôi/Chúng ta. Ta là Nhạc trưởng và cũng chính ta là người thưởng thức những khúc nhạc do ta điều khiển 6 tay chơi nhạc là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

  8. Trong những người mà Giao Cảm thường hoạt động thì miệng khô, bàn tay ướt (palms moist), tim đập nhanh cho dù trong lúc nghỉ ngơi. Còn người mà Đối Giao Cảm thường hoạt động tim đập chậm, hệ thống tiêu hóa hoạt động tốt.

Để quí vị có khái niệm tổng quát về hoạt động của Đối Giao Cảm Thần Kinh và Giao Cảm Thần Kinh, chúng tôi lập sơ đồ dưới đây:

Đại cương tác dụng Đối Giao Cảm và Giao Cảm thần kinh vào nội tạng
[Xin đọc tiếp trang 5]