Bài đọc thêm số 2 - Hệ Thần Kinh Tự Quản
(Trang 3/6)
THÀNH PHẦN
Hệ Thần kinh Tự quản gồm những sợi thần kinh điều hòa hoạt động cơ trơn, cơ tim và các tuyến. Đường ly tâm của TKTQ chia
ra đường giao cảm và đối giao cảm.
Đường giao cảm gồm những đường đi ra từ phần giữa tủy sống, nó đáp ứng sợ hãi, tình dục, "chiến đấu hay tháo chạy-fight
or flight".
Đường đối giao cảm đi ra từ não bộ hay phần dưới của tủy sống và điều hợp những hoạt động bình thường của thân
(xin xem hình dưới). Vì vậy đường đối giao cảm được gọi là "bộ phận nghỉ ngơi và hồi phục."
Đường hướng tâm của Thần kinh Tự Quảng tùy thuộc vào đường cảm giác nội tạng, nó mang thông tin hồi đáp đến trung tâm hợp nhất tự quản
trong hệ Thần kinh Trung ương.
CHỨC NĂNG
Chức năng hệ thần kinh Tự quản như sau:
- Kiểm soát hoặc kích thích cơ nội tạng của cơ thể gồm mạch máu, tim, ruột, bao tử, bài tiết, và các tuyến nội tiết.
- Can thiệp vào cơ trơn và cơ bản là điều hòa cơ chế tiêu hóa, thở, tuần hoàn máu. Những tiến trình này không dưới sự kiểm soát bình thường của ý chí.
- Phần lớn, hệ Giao cảm tiết ra norepinephrine (viết tắt NE, cũng gọi là noradrenaline, viết tắt NA). Chất này theo máu đi vào ruột
thượng thận làm tiết ra thêm norepinephrine và epinephrine (viết tắt EN, cũng gọi là adrenaline). Cả hai chất này làm máu tăng áp suất,
nhịp tim đập nhanh. Đặc biệt với sự tác động của epinephrine nó làm cho gan không giữ đường được và thoát ra, làm cho máu có đường. Tuy nhờ
đó năng lực con người được tăng thêm, nhưng nhiều quá làm hại cơ thể. Cả hai chất NE và EN tạo ra chất béo trong máu, nếu tiết ra quá nhiều,
làm cho cơ thể béo phì.
- Hệ Đối Giao cảm tiết ra acetylcholine (viết tắt: ACh) để làm dịu norepinephrine do hệ Giao cảm tiết ra và epinephrine từ ruột thượng
thận tiết ra. ACh có tác dụng làm hạ đường trong máu và chất béo trong máu. Càng nhiều ACh, huyết áp càng hạ, máu mỡ hạ, người không bị
bệnh béo phì, cơ thể linh hoạt, trí tuệ sáng suốt, phục hồi ký ức.

ĐẶC TÍNH
Hệ thần kinh Tự quản luôn luôn hoạt động, mặc dù bất cứ lúc nào phần này có thể hoạt động trội hơn phần kia. Mỗi phần
hoạt động đều do những sự xúc cảm/xúc động và thái độ yên lặng nội tâm. Nói theo tâm lý Phật giáo, nó bị ảnh hưởng bởi những thái độ tâm
lý của cá nhân, như tâm phàm phu, tâm bậc thánh, tâm Phật, hoặc vọng tâm hay chân tâm. Thí dụ, lo âu, sợ hãi, sân hận, buồn chán, giận tức,
thù hận, tập trung tư tưởng vào chủ đề hay đối tượng quá mức thì Giao cảm hoạt động. Thư giãn, thanh thản, bình thản, thư thái, an vui, hòa
thuận, chánh niệm tỉnh giác, tĩnh lặng thuộc hoạt động của hệ Đối giao cảm.
Nó chuyển hướng máu đến những vùng cần hơn, làm chậm hay tăng nhịp tim, nhịp thở, điều chỉnh áp suất máu và thân nhiệt, và
tăng hay hạ dịch vị bao tử. Hầu hết sự điều chỉnh này xảy ra chúng ta không ý thức biết hay chú ý đến được. Thí dụ, ít người cảm nhận khi
con ngươi giãn ra hay động mạch co thắt như thế nào.
Cả hai hệ thần kinh đều ảnh hưởng đến các cơ quan bên trong cơ thể, nhưng cả hai đều hoạt động trái ngược nhau. Thí dụ,
Giao cảm làm cho gia tốc nhịp tim trong khi Đối giao cảm làm hạ thấp nhịp tim. Tỉnh táo, dao động tâm quá mức, tỉnh thức ý thức là kích
thích Giao cảm. Khi Giao cảm bị kích thích làm cho gan thoát ra chất đường máu là glucose. Khi Đối giao cảm bị kích thích làm cho gan tổng
hợp hợp chất glycogen và giữ đường lại trong gan.
Giao cảm làm căng hoạt động thần kinh. Thí dụ như hoạt hóa cơ bắp bằng những sự tranh tài hay chiến đấu chống lại đối thủ
hoặc trốn thoát kẻ địch hay bơi lội, chạy bộ, đi xe đạp đường xa, trượt tuyết, trượt băng, tắm hơi. Nói chung, khi cơ bắp quá căng thẳng, Giao
cảm thần kinh hoạt động. Các môn thể thao làm căng cơ bắp như chơi quần vợt, đá bóng, bóng rổ, bóng chuyền, đấu võ, đánh kiếm, và các cuộc
tranh tài trong Thế vận hội.
Những môn bơi lội, chạy bộ, chèo thuyền, đi thuyền buồm, trượt nước, nếu mỗi ngày đều tập, đều đưa đến căng
thẳng thần kinh. Ngược lại, nếu chúng ta tập mỗi tuần hai hoặc ba lần thì không tạo ra căng thẳng thần kinh.
Trên phạm vi Thiền, hệ Giao cảm thuộc hoạt động của vọng tâm, do ý căn, trí năng, và ý thức khởi động; còn Đối Giao cảm thuộc
phạm vi hoạt động của chân tâm, tánh giác, hay trí năng tỉnh ngộ, hoặc đơn niệm biết, chỉ biết, thầm nhận biết, tỉnh thức biết hay nhận thức
biết không lời, hoặc Ộtự ngã thanh tịnh.Ợ Do đó, ta có thể nói, chức năng của hệ Đối Giao cảm ở mức bình thường là liên hệ đến kinh nghiệm tôn
giáo, ở mức sâu sắc hơn, liên hệ đến kinh nghiệm tâm linh.
Thí dụ, khi ta tụng kinh, tụng chú, gõ mõ với nhịp điệu đều đều; tai nghe, chỉ biết nghe; mắt thấy; chỉ biết thấy; không thêm
ý nghĩa gì trong lúc đó về nghe hay thấy, tức thì Đối giao cảm liền bị tác động.
Thành phần của hai Hệ Giao Cảm và Đối Giao Cảm
I. Hệ Giao Cảm gồm hai chuỗi dây thần kinh đi từ cột sống ra cơ thể đến các cơ quan khác nhau, cùng giống như hệ Đối giao cảm
là con ngươi, tuyến nước bọt, và những cấu trúc khác mà chúng kiểm soát được như tim, động mạch vành tim, phổi, gan bao tử, mật, ruột non,
ruột già, bọng đái, tuyến tụy, tuyến thượng thận, da, mạch máu ngoại biên. Chuỗi dây thần kinh này nằm trên 2 vùng của cột sống:
- Đốt sống ngực: gồm 12 đốt, nằm giữa đốt sống thắt lưng và đốt sống cổ; liên hệ đến: mắt (con ngươi giãn nở/mở rộng); nước bọt (khô); nước
mắt (khô); phổi (thở bình thường); tim (làm tăng nhịp tim); gan (làm thoat ra đường (glucose) từ trong gan; bao tử (ngăn chận tiêu hóa); ruột
non (làm cho bón); tuyến tụy (tiết ra glucagons); ruột tuyến thượng thận (tiết ra epinephrine và norepinephrine).
- Đốt sống thắt lưng: gồm 5 đốt, nằm ở giữa đốt sống ngực và xương cùng; liên hệ đến: ruột già, bàng quan (bọng đái = túi chứa nưóc tiểu).
Bên trong sợi thần kinh tận cùng của giao cảm tiết ra thần kinh dẫn truyền (Xin coi phần Chú Thích số [1], ở trang 5) norepinephrine [2] (cũng gọi là noradrenaline). Chất này đi thẳng vào
máu tạo ra sự kích thích hoạt động hăng say, đôi khi mù quáng, thiếu bình tĩnh, tay chân run rẩy. Khi bị hoạt hóa nó cũng kích thích tuyến
thượng thận để làm thoát ra epinephrine [3] (cũng gọi là adrenaline). Ngoài ra, trong vài trường hợp ngoại lệ, tác động tuyến nước bọt và mạch
máu ở cổ, mặt, và cơ xương, tế bào giao cảm cũng dùng acetylcholine như thần kinh dẫn truyền.
Điểm quan trọng mà ta cần chú ý là đầu dây thần kinh tận cùng của hệ Giao cảm liên kết với tuyến thượng thận. Tuyến này nằm trên đỉnh của mỗi
quả thận. Nó đóng vai trò quan trọng trong sự hoạt động của hệ Giao cảm đối với sức khỏe con người. Do đó, tuyến thượng thận cũng được xem là
một phần của Giao cảm thần kinh vì bên trong ruột tuyến thượng thận tiết ra epinephrine.
Khi tâm chúng ta bị những điều kiện bên ngoài kích thích đưa đến sự nổi sân, bực tức, sợ hãi quá mức, hay đương đầu với tình trạng khẩn cấp,
hoặc đối phó những nguy cơ mà thiếu bình tĩnh, đó là lúc hệ Giao cảm hoạt động. Hai chất nước hóa học epinephrine và norepinephrine được dịp
tiết ra để thích nghi hóa với tình trạng tâm lý xúc cảm hay xúc động của ta vào thời điểm đó.
Nói chung, bất kỳ lúc nào, tâm trong trạng thái rối loạn, căng thẳng, bao gồm những sắc thái lo âu, sân hận, sợ hãi, kinh hoàng, gây hấn; chứng
kiến những cảnh rùng rợn, thảm khốc, Giao cảm thần kinh hoạt động. Nhịp tim sẽ đập nhanh, huyết áp tang, đường trong máu tăng.
Trong khi tập thể dục, bơi lội đường dài hay chạy bộ đường dài (marathon), hoặc những hoạt động cơ thể mãnh liệt trong các cuộc tranh tài trong
Thế vận hội, bộ phận Giao cảm cũng làm tăng một số điều chỉnh khác. Mạch máu nội tạng co thắt, mạch máu tim và mạch máu cơ xương giãn ra. Điều
này gây ra ngăn chặn máu cơ xương và đưa đến hoạt động mãnh liệt của tim. Cuống phổi giãn ra để tăng thông khí (ventilation). Đó là khí quản
mở thông, dưỡng khí vào ra cuống phổi dễ dàng, và làm cho dưỡng khí chuyển đến tế bào cơ thể, đưa đến gan thoát ra đường vào máu để cung cấp
cho sự tăng cường năng lượng cần thiết của tế bào cơ thể. Cùng lúc đó, những hoạt động không cơ bản, như đường dạ dày, ruột và đường di động
nước tiểu tạm thời bị hãm lại, không chảy ra.
Nó được xếp vào hệ thống Tỉnh Táo.
II. Hệ Đối Giao Cảm gồm một chuỗi dây thần kinh đi từ trong cuống não, gọi là thần kinh sọ não (Cranial nerve) và đường khác
nằm phần dưới cột sống. Các nhà khoa học về thần kinh xếp số thứ tự các chuỗi dây thần kinh đi từ cuống não gồm các dây:
- III (3) = Dây thần kinh vận nhãn (Oculomotor nerve). Dây thần kinh này liên hệ đến cơ mi, cơ mắt, đồng tử (con ngươi).
- V (5) = Dây thân kinh tam thoa (Trigeminal nerve). Dây này liên hệ đến dây thị giác, và cơ nhai hàm trên và hàm duới.
- VII (7) = Dây thần kinh mặt (Facial nerve). Dây này liên hệ đến tuyến nước bọt (hàm trên, hàm dưới), và tuyến nước mắt.
- IX (9) = Dây thần kinh thiệt hầu (Glossopharyngeal nerve). Dây thần kinh này liên hệ đến lưỡi, họng.
- X (10) = Dây thần kinh phế vị (Vagus nerve). Đây là dây thần kinh dài nhất. thần kinh này liên hệ đến tim (làm chậm nhịp tim), phổi (thở
chậm lại), thanh quản (nở), khí quản (thắt), mạch máu (giãn trong ruột non và hậu môn), bao tử (kích thích tiêu hóa), túi mật (kích thích để
tiết ra mật), tuyến tụy (kích thích để tiết ra insulin), ruột non, ruột già (đi tiêu dễ), bọng đái (thắt lại).
Đầu dây thần kinh của Đối Giao cảm thoát ra acetylcholine [4]. Chất này chống lại epinephrine và norepinephrine.
Hệ Đối Giao cảm đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa hệ thống tim mạch. [Xin đọc tiếp trang 4]