Bài đọc thêm - Điện Não Đồ


(Trang 3/3)

3. Sóng Theta

Ý NGHĨA

Sóng não Theta tượng trưng cho tâm định: biết không lời có mặt. Nhịp thầm nhận biết và tỉnh thức biết bình thường của não kết hợp với hoạt động của vùng kiến giải tổng quát, phía sau bán cầu não trái. Trong sóng não Theta không có hoạt động của tác ý (chú ý) vào bất cứ đối tượng nào trên thân hay ngoài thân.

Tâm người hành thiền ở trạng thái rỗng lặng: biết tất cả mà không dính tất cả. Trong ngũ uẩn, Thọ (biết không dính) có mặt thường trực. Tưởng, Hành, và Thức vắng mặt.

ĐẶC TÍNH

Sóng não Theta có tần số từ 4 đến 8 Hz trong mỗi giây. Đây là trạng thái tâm tĩnh lặng sâu hay thư giãn sâu. Niệm niệm không tự động khởi ra trong đầu người hành thiền. Ngôn hành và ý hành yên lặng. Các vùng ký ức vận hành, ký ức dài hạn, và ký ức ngắn hạn không hoạt động.

Do đó, sóng Theta được xem là nền tảng của tất cả những tiến trình Định, vì trong nó tầm và tứ đều vắng mặt. Ý hành cũng vắng mặt.

ĐIỀU KIỆN

Khi người hành thiền kinh nghiệm:

  • Thầm nhận biết,
  • Tỉnh thức biết,
  • Biết như thật 7,
  • Biết như vậy 8,
  • Làm chủ tâm ngôn,

Sóng não Theta liền phát ra.

Ngoài ra, tọa thiền trong trạng thái thư giãn. Thí dụ, thư giãn lưỡi, thư giãn thần kinh mặt, sóng Alpha xuất hiện trước, sau đó là sóng Theta.

SO SÁNH

Sóng Theta tương đương với trạng thái không nói thầm hay không đối thoại thầm lặng. Còn sóng Alpha tương đương với trạng thái Quán, tử kỷ ám thị, hay tập trung tư tưởng vào đề mục dụng công. Khi một người vừa mới dừng được tầm và tứ, sóng não Theta liền hiện ra. Nếu vị ấy củng cố trạng thái không lời từ 10 phút đến 30 phút, sóng Delta liền hiện lên trên màn máy vi tính.

4. Sóng Delta

Ý NGHĨA

Sóng Delta tượng trưng cho tâm định vững chắc. Nhịp nhận thức không lời xuất hiện bình thường kết hợp với vùng nhận thức không lời của khu kiến giải tổng quát. Tâm của người hành thiền ở trạng thái hoàn toàn khách quan.

ĐẶC TÍNH

Sóng Delta biên độ cao, tần số từ 3 đến 4 Hz hay thấp hơn là từ 1 đến 3 Hz trong mỗi giây. Nếu nhìn lên trên màn máy vi tính, ta sẽ thấy sóng Delta có dạng như sợi chỉ gần như thẳng.

ĐIỀU KIỆN

Bằng phương pháp:

  • Nhận thức không lời,
  • Biết như vậy,
  • Thấy biết như vậy,

Sóng não Delta liền xuất hiện. Tuy nhiên, nếu chỉ đo sóng não có dạng Delta trong lúc đo, rồi thời gian sau đó các thứ tâm lăng xăng, điên đảo lại khởi lên, kết quả sự đo kia không còn giá trị. Vì gió thế gian sẽ thổi "Cây Định" của người hành thiền "trốc gốc!" Vì vậy, muốn liên tục củng cố dạng sóng Delta, người hành thiền phải liên tục củng cố không nói thầm trong não trong bốn oai nghi ngoài những thời thiền

SO SÁNH

Bằng nhận thức không lời, ta vào được Delta, trong lúc đó bằng thầm nhận biết hay tỉnh thức biết, ta vào được Theta. Sóng não Delta được so sánh như trạng thái của người vào được Định sâu, tương đương với trạng thái Nhị Thiền vững chắc với tâm thuần nhất 9 và Tam Thiền với chánh niệm tỉnh giác. Sánh với Thiền tông là trạng thái không lời hay vô ngôn vững chắc. Nơi đây tám gió thế gian khó lung lạc thiền gia.

NHỮNG TRƯỜNG HỢP KHÁC

Với thiền, sóng não Delta đại biểu cho trạng thái "tâm vô thức" hay trạng thái "nhận thức không lời" được kéo dài từ 5 phút đến 10 phút, hoặc cao hơn nữa trong một thời thiền. Còn đối với người tuy cũng vào định, nhưng không biết gì chung quanh, không có nhận thức không lời về đối tượng siêu lý luận, cũng tạo ra sóng Delta, nhưng người này không có trí tuệ tâm linh tự phát.

Hoặc trong lúc ngủ say và khi hệ thống Cơ cấu mạng lưới (Reticular Formation) không nhận tín hiệu từ bên ngoài vào, như tình trạng mất cảm giác (anesthesia) cũng tạo ra sóng não Delta.

Hoặc người ngủ say, hay hôn mê (coma), sóng não Delta tuy cũng xuất hiện, nhưng nhận thức không lời không có mặt.

TÁC DỤNG

Tác dụng của sóng não Delta cho thấy phần lớn sóng não này là thành phần của trực giác (intuition) và thấu cảm (empathy). Người có sóng não này thường là người dễ thông cảm với người khác. Những trạng thái từ, bi, hỷ, xả thường biểu lộ ra ngoài thân, lời và ý của vị đó.

Trí tuệ tâm linh được triển khai từ sóng não Delta. Người có sóng não Delta sẽ có trí tuệ tâm linh không thể giải thích (an inexplicable spiritual insight) như:

  • Thấu cảm (khả năng hiểu biết được ý nghĩ và cảm xúc của người khác),
  • Linh cảm (a hunch, a premonition, a presentiment) = nhận thức điều gì không thông qua giác quan,
  • Linh tính (a foreboding) = sự đoán trước một việc gì đó sẽ xảy đến trong tương lai gần.

Sóng não Delta được so sánh như máy radar của con người. Khi người hành thiền đạt được vững chắc sóng Delta liên tục trong nhiều năm, vị ấy có khả năng bắt được tần số suy nghĩ của người khác.

Cao hơn nữa là sự phát huy tính sáng tạo 10 (creativity). Trong đó có khả năng tứ vô ngại giải 11, và sáng đạo 12 (innovation of the way).

GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

1. PET: tên gọi tắt của 3 từ Positron Emission và Tomography. Đây là kỹ thuật ghi hình hoạt động của não bộ trên màn ảnh của máy computer thông qua một thiết bị có dạng hình ống. Bệnh nhân được đặt nằm trong đó. Các chuyên viền dùng positron là chất chống vật chất giống hệt điện tử (the antimatter counterpart of an electron). Chất này có cùng khối điện tử, nhưng không có nạp điện, trái lại tạo ra sự phát ra (emission) nguyên tử phóng xạ (radioactive atoms). Các nhà não học dùng nó để đo lưu lượng máy tập trung tại một nơi nào đó trong não bộ để biết vị trí của những mối xúc cảm hay cảm nghĩ của con người qua sự tái thiết lập hình trên máy điện toán (tomographs). Từ đó các nhã não học đặt tên máy là Positron Emission Tomography, viết tắt là PET.

Từ năm 1988, tại trường Đại Học Y Khoa ở Seattle, tiểu bang Washington, các nhà nghiên cứu não như Steven E. Petersen, Michael I. Posner, Peter T. Fox, Mark Mintun, và Marcus E. Raichle đã bắt đầu xử dụng kỹ thuật PET để nghiên cứu chức năng của não người bình thường, đặt biệt nhất là những vùng Broca và Wernicke. Qua phương pháp PET, cho thấy trung tâm Phát ra Lời nằm ở tiền trán bán cầu não trái, trung tâm Nghe nằm ở thùy thái dương hai bán cầu não trái và phải.

2. Sóng não: Brainwaves: Não phát ra xung lực điện thường trực. Dòng điện này gọi là sóng não. Sóng não đó được đo bằng tần số (frequency) và biện độ (amplitude).

3. Tầm, Tứ: Tầm: Pali: vitakka: suy tư (pondering) ngẫm nghĩ (reflection). Nghĩa bình dân: nói thầm. Tứ: vicāra: tư duy biện luận (discursive thinking), quán sát (investigation), khảo sát (examination). Nghĩa bình dân: đối thoại thầm lặng bên trong.

4. Nhất tâm: citta/cittassa-ekaggatā (One-pointedness of the mind). Ekaggatā = Thuật ngữ = Nhất điểm (one-pointedness). Nó là một của 7 phần tâm sở hữu của ý thức (consciousness). Eka = một. Khi kết hợp với "citta" hay "cittassa," nó có nghĩa "nhất điểm tâm." Từ này được lập thành trong nhiều văn bản Phật giáo, nó có nghĩa tập trung (concentration), quán (contemplation) hay yên lặng (tranquillity).

Thoạt đầu nó là đối tượng của ý thức. Tâm trở nên biết chỉ có một đối tượng và có thể bị xao lãng (distracted) bởi nhiều đối tượng khác.

Như vậy "ekaggatā" trong nghĩa căn bản, nó chỉ cho ý thức chú ý có chọn lựa, tập chú hay tập trung. Nhiều văn bản Phật giáo, xem nó đồng nghĩa với samādhi. Nhưng nó hoàn toàn khác nhau ý nghĩa giữa ekaggatāsamādhi. Ekaggatā là thuật ngữ chỉ sự tập trung ý thức (concentrated consciousness). Nó có thể giúp ta phát triển được tâm định cao hơn, nhưng tầmtứ vẫn còn. Trong Luận thư của Nguyên Thủy [Dhammasaṅgini: Pháp Tập Luận, do ngài Mục Kiền Liên Tu Đế (Moggaliputta-tissa) thiết lập trong kỳ kết tập kinh điển lần thứ 3 dưới triều Vua A Dục], định nghĩa "chánh định" và "nhất điểm" đồng nghĩa. Nhưng trong kinh Nikāya thì không cho là như vậy.

Trên nguyên tắc, "ekaggatā" là phương tiện đầu tiên để thực hành Định bằng cách gom tâm lại một điểm. Sau đó, khi tâm bớt xao lãng ta có thể tiến lên bước khác.

5. Biên độ: amplitude. Thuật ngữ khoa học, chỉ sự hiện rõ độ gốc nằm dưới biểu đồ đo sóng não của một người. Biên độ là sức mạnh của xung lực điện, được đo bằng vi điện áp (microvoltage).

6. Tần số: frequency. Tần số là tốc độ của những sự gợn sóng nhấp nhô (undulations), được đo bằng chu kỳ mỗi giây (hay Hertz). Tần số xác định loại sóng não nào là beta, alpha, theta, và delta. Sự kết hợp của những loại sóng não kể trên xác định hay nhấn mạnh trạng thái ý căn, ý thức, và tánh giác của ta vào bất cứ lúc nào khi ta đo.

7. Biết như thật: Như thật tri: Pali: Yathābhūtañāṇa; Sanskrit: Yathābhūtajñāna: the knowing of the thing or object as it is or as in reality; knowing in accordance with reality; the knowledge of the true reality, the knowledge of the true nature (of phenomena). Thuật ngữ này xuất hiện trong hệ kinh Nguyên Thủy Nikāya hay A Hàm, có nghĩa sự kiện, sự vật hay đối tượng nếu có thì biết có, nếu không có thì biết không có; vật thế nào, biết y như thế đó mà không có thêm, bớt gì trong đó, gọi là "biết như thật." Như kinh nói: "Cái gì hiện hữu biết nó hiện hữu, cái gì không hiện hữu, biết nó không hiện hữu." (santam vā atthi' ñasssati asantam vā natthi'ti ñassati). Đây là cách biết trạng thái đang là của đối tượng. Trên thực tế, nếu đạt được như thật tri, xem như ta đã đạt được tánh giác hay tánh giác đã hiển lộ. Vì chỉ có tánh giác mới biết như thật, biết không hai bên.

8. Biết như vậy: biết trống rỗng. Đây là sự biết bằng nhận thức, không lời về đối tượng: cơ chế thứ tư của tánh giác. Pali: Tathāñāṇa, Tathāpajānanā.

9. Tâm thuần nhất: Pali: cetaso-ekodibhāva, cũng viết là ekothibhāva, hoặc ekotibhāva (unification of the mind, or unified mind). Thuật ngữ "thuần nhất" (ekodibhāva) thường được mô tả trong sơ thiền nhập nhị thiền. Nó thường được dùng để chỉ trạng thái riêng biệt của tâm không dính mắc vào hai bên và đạt được bằng làm chủ ý ngôn. Trong đó có từ "eko" có nghĩa "duy nhất," hay "đơn" (unique or single).

Đây là trạng thái tâm vô niệm; chỉ có một dòng niệm biết không lời không đứt quãng. Trong đó tâm không dính với cảnh hay đối tượng. Tầm và tứ không xuất hiện. Tương xứng với Nhị Thiền: trạng thái vô tầm, vô tứ định. Nó khác với nhất tâm (citta-ekaggatā = One-pointedness of mind). Trong nhất tâm có ý thức tập trung vào đối tượng. Nó không phải là Định (Samādhi). Nó là cách thực hành để hạn chế bớt tâm lăng xăng dao động.

Với loại nhất tâm này, khi đo điện não đồ sóng Alpha hiện ra. Ngược lại, với tâm thuần nhất, sóng Theta hiện ra. Sau đó là sóng Delta với trạng thái tỉnh thức biết và nhận thức không lời.

10. Tính sáng tạo: Năng lực kiến giải những điều mới và tạo ra được điều mới đó đầu tiên.

11. Tứ vô ngại giải: Bốn năng lực kiến giải của tánh giác:

  1. Pháp vô ngại giải = Tánh giác kiến giải Pháp của Phật trên nhiều mặt, tuy hình thức khác nhau, nhưng không xa rời cốt lõi nội dung của Pháp. Nhờ cách kiến giải này giúp người nghe đủ mọi trình độ căn cơ lãng hội để thực hành.
  2. Nghĩa vô ngại giải = Dùng nhiều cách giảng giải nghĩa của Pháp, cốt làm rõ nghĩa của Pháp, giúp người nghe thông hiểu để thực hành.
  3. Từ vô ngại giải = Khi giảng giải, có khả năng dùng nhiều loại từ, nhiều thí dụ phù hợp theo địa phương, theo thời đại, giúp người nghe nhận ra cốt lõi nghĩa của từ ngữ đó để dụng công.
  4. Biện tài vô ngại giải = Khéo giảng pháp thích hợp với mọi trình độ căn cơ và giải đáp không chướng ngại.

12. Sáng đạo: Sự kiến giải của một trong bốn cơ chế của tánh giác những điều mới lạ về pháp của Phật hay của Tổ. Tương đương tiếng Anh: "Innovative ways."

PHỤ LỤC

Hình chụp hoạt động của các vùng bên trong não bộ khi vào Định.

Thầy Thích Thông Triệt chụp hình não bộ qua máy fMRI


Hình vùng Nhận thức biết không lời


Hình vùng Broca


Hình vùng Wernicke


Thầy Thích Thông Triệt
(Trích từ sách "Thiền Luận Vấn Đáp 1" phát hành tháng 7 năm 2007)