Bài đọc thêm - Điện Não Đồ


(Trang 2/3)

Ý NGHĨA NHỮNG DẠNG SÓNG NÃO

Bằng Điện não đồ, các nhà não học ghi nhận được những loại điện thế (action potentials) từ bên trong tế bào não (neurons) phát ra và truyền đi trong trục thần kinh não (axon). Dạng điện này được gọi là sóng não.
Có tất cả 4 loại dạng sóng não: Beta, Alpha, Theta, và Delta.

Bốn dạng sóng não

1. Sóng Beta

Ý NGHĨA

C. Maxwell Cade, người Anh, là người thiết lập mô thức Hồi đáp sinh học (biofeedback) đầu tiên, định nghĩa Beta như "Nhịp tỉnh táo bình thường của não kết hợp với hoạt động suy nghĩ hay hoạt động chú ý, tập chú vào thế giới bên ngoài hay giải quyết những vấn đề cụ thể. Sức mạnh của tín hiệu gia tăng bởi lo âu và giảm bởi sự hoạt động cơ bắp." "The normal waking rhythm of the brain associated with active thinking or active attention, focussing on the outside world or solving concrete problems. The strength of the signal is increased by anxiety and reduced by muscular activity."

Nói theo ngôn ngữ Thiền, sóng não Beta luôn luôn kết hợp với ngôn hành và ý hành. Ngôn hành là Tầm và Tứ. Ý hành là Thọ và Tưởng.

ĐẶC TÍNH

Sóng não Beta tượng trưng cho vọng tưởng, vọng tâm. Ngôn hành (Tầm và Tứ) và Ý hành (Thọ và Tưởng) đều có mặt đầy đủ.

Sóng này được đo từ 14 đến 30 Hz trong mỗi giây. "Hz" là ký hiệu được dùng để chỉ đơn vị tần số tương đương với chu kỳ 1 giây đồng hồ. Nó là chữ viết tắt của từ "Hertz." Từ Hertz là tên của nhà vật lý người Đức: Heinrich Hertz (1857-1894). Vào thế kỷ 19, ông là người đầu tiên đã khám phá ra sóng ánh sáng phát ra từ radio. Các nhà đo điện não đồ dùng tên của ông để chỉ khoảng cách của sóng não trong một giây đồng hồ.

Đặc tính của sóng não Beta là nói lên những mức độ cao của tiến trình nhận thức bằng suy luận, bằng suy nghĩ phức tạp, và bằng những sự phân biệt dây dưa sâu sắc của ý thức thông qua sự nói thầm trong não, hoặc sự tưởng tượng về đối tượng hay chủ đề mà ta đương thực hành.

Nói cách khác, khi TầmTứ hay sự nói thầm và đối thoại thầm lặng, hoặc vọng tưởng liên tục khởi lên với mục tiêu có định hướng như thế nào đó, đây chính là lúc sóng Beta xuất hiện ào ạt. Cũng vậy, khi niệm niệm (thought after thought) liên tục xung đột trong não một người dưới dạng tâm lý băng khoăn lo lắng, hay trạng thái tỉnh táo bình thường, hoặc ý thức cảnh giác bình thường, sóng Beta cũng cuồn cuộn nhấp nhô nổi lên. Đó là đặc tính của sóng não Beta.

ĐIỀU KIỆN

Sóng Beta xuất hiện trong những trường hợp:

  • Với người mới tập thiền, khi đo ĐNĐ mà môi trường bên ngoài có nhiều tiếng động, âm thanh này sẽ ảnh hưởng người đương đo; qua đó sẽ tạo nên sóng Beta.
  • Ngoài ra, khi vừa ăn xong, nếu đo ĐNĐ, sóng Beta cũng dễ dàng phát ra.
  • Trong lúc tọa thiền, nhiều hình ảnh từ các vùng ký ức gởi lên liên tục; đặc biệt là ký ức dài hạn. Ta không ngăn chặn được, rồi ta nói qua, nói lại với ta về những hình ảnh đó.
  • Sóng não Beta được kết hợp với sự gia tăng huyết áp và tăng gia sự biến đổi hóa học bên trong cơ thể để cung cấp nhu cầu năng lượng cho cơ thể (metabolism). Dạng sóng này nói lên trạng thái hoạt động nội tâm cao như sóng biển dậy lên ào ạt từng đợt liên tục. Sóng não Beta được tính từ 14 đến 30 Hz mỗi giây.
  • Nói chung, trên phương diện thực hành thiền, sóng Beta xuất hiện trong những trường hợp cụ thể:
  1. Khi tỉnh thức có ý thức như ngồi thiền mà ta tập trung tư tưởng vào vấn đề nghiêm trọng. Lúc đó trong đầu vừa suy nghĩ tính toán, vừa nói thầm, và vừa biểu lộ những sắc thái tâm lý xúc cảm.
  2. Khi ngồi thiền, ta đối thoại thầm lặng về nhiều vấn đề liên quan trong cuộc sống hằng ngày.
  3. Khi ngồi thiền ta tưởng tượng về một hình ảnh nào đó.
  4. Khi đối duyên, xúc cảnh, chúng ta sử dụng ý thức (phân biệt đối tượng bên ngoài để giải quyết vấn đề cụ thể) hay ý căn (suy nghĩ, tính toán hợp lý hay không hợp lý) để giải quyết mọi vấn đề bình thường hay nghiêm trọng.
  5. Khi tọa thiền, ta ở trong trạng thái cảnh giác ý thức thường trực như "mèo rình chuột." Đây là ta cố gắng kềm giữ vọng tưởng, không cho nó khởi lên (nhưng ta chẳng làm sao dừng được). Ta tự phác họa vọng tưởng là "chuột." Còn ta là "mèo." Khi niệm khởi lên, mèo nhảy tới chụp.
  6. Đặc biệt, khi tọa thiền, ta cố gắng cắn răng chịu đựng sự đau nhức quá mức hay tê cứng hai chân mà không chịu xả thiền, sóng Beta cũng xuất hiện. Thí dụ, trong tư thế bán già hay kiết già, nếu ta ngồi với sự cố gắng giữ thân mình (sống lưng, hai tay, đầu, cổ) cho được ngay thẳng, theo sự quy định trong suốt thời thiền 60 phút hay 120 phút tại thiền đường hay tại nhà. Ta cố gắng trân mình chiến đấu với vọng tưởng, như chơi trò chơi cút-bắt với niệm, nhưng kết quả ta chẳng làm sao chiến thắng được. Vì càng cố gắng, sóng Beta càng chạy lung tung, thần kinh càng căng; cuối cùng đưa đến ta càng thất bại, hay càng xa rời mục tiêu thiền là thư giãn tâm! Mặc dù lúc bấy giờ trong đầu ta chỉ có một niệm cố gắng tối đa để giữ thân mình cho được ngay thẳng, dù tê, đau, nhức, ngứa cũng cắng răng chịu đựng.
  7. Khi lo âu, tim đập nhanh, hai bên vùng thái dương đập nhanh, thở nhanh, sóng Beta liền được tạo ra. Trong trường hợp này, ta không thể suy nghĩ thẳng ngay vào vấn đề gì. Tâm ta có vẻ như ngoài sự kiểm soát, và sóng não Beta nổi lên loạn xạ.

SO SÁNH

Bốn nhóm trong Ngũ uẩn là thọ, tưởng, hành, thức, đại biểu cho vọng tâm, đều có mặt thường trực, khi sóng não Beta xuất hiện. Tuy nhiên, nếu thọ khởi lên, ta biết mà không dính, sóng Theta liền xuất hiện.

CÁCH KIỂM SOÁT SÓNG BETA ĐỂ CÓ SÓNG ALPHA

Muốn kiểm soát sóng Beta để có sóng Alpha, ta có thể áp dụng phương pháp dùng lời nói thầm để cắt đứt quán tính suy nghĩ bằng những cách:

  1. Thở đếm từ 1 đến 10.
    Thí dụ: Khi hít vào, đếm thầm "1," thở ra đếm thầm "2" cho đến "10." Sau đó, tiếp tục vừa thở, vừa đếm. Chỉ thở trong vòng 30 giây, sóng não Beta sẽ từ lần giảm độ cao; thế vào đó là sóng Alpha.
  2. Niệm Phật.
    Thí dụ: Ta cũng có thể áp dụng cách niệm thầm danh hiệu Phật với nhịp điệu đều đặn, hoặc niệm có lời; tai vừa đủ nghe; sóng Beta cũng hạ; sóng Alpha xuất hiện.
  3. Trì chú.
    Thí dụ: Ta cũng có thể trì chú đều đặn như cách niệm thầm danh hiệu Phật; sóng Beta cũng hạ.
  4. Đếm thầm "1-2-3."
    Thí dụ: Đặc biệt, ngoài những cách trên, ta có thể áp dụng cách đếm thầm, chậm "1-2-3" trong vòng 10 giây, sóng Beta cũng hạ.
  5. Tập trung ý nghĩ.
    Ta cũng có thể áp dụng cách tập trung ý nghĩ vào những nơi trên thân, như đầu mũi, đơn điền, hay ngồi với lưng thẳng đứng, tập trung ý nghĩ vào việc quan sát lần lượt những cảm thọ từng nơi cơ thể.
    Thí dụ: Bụng, tay, đầu, mặt, vân vân, sóng Beta cũng hạ; sóng Alpha xuất hiện.

Những cách trên, theo từ chuyên môn trong Thiền, chúng tôi gọi là "dùng tầm tắt tứ." (xem tiếp phần sóng Alpha)

CÁCH KIỂM SOÁT SÓNG BETA ĐỂ CÓ SÓNG THETA

Muốn kiểm soát sóng Beta để có sóng Theta, ta có thể áp dụng như sau:

  1. Ngồi với lưng thẳng đứng, mở mắt nhìn vào bất kỳ đối tượng nào trước mặt. Áp dụng chỉ biết, sóng Beta liền giảm ngay tức khắc. Cuối cùng sóng Beta trở thành sóng Theta.
  2. Ta củng có thể chuyển sang cách: nghe chỉ biết nghe. Thí dụ nghe âm thanh tiếng chuông, sóng não Beta cũng hạ.
  3. Thực tập chỉ biết trong lúc đi, đứng, hay ngồi chơi (không phải ngồi chính thức theo tư thế ngồi thiền) trong thời gian ngắn: từ 7 đến 10 ngày liên tục. Mỗi ngày dành riêng cho những lúc dụng công trong các dịp: đi vệ sinh, đánh răng, súc miệng, đi tắm, lái xe đi; lúc ăn, lúc uống, lúc làm những việc linh tinh. Lúc nào cũng áp dụng chỉ chỉ biết qua các giác quan: mắt, tai, da, mũi, lưỡi. Sau đó đo ĐNĐ, sóng não Beta sẽ không còn mà thế vào đó là sóng não Theta. Đây là dạng Định trong động, đồng thời kích thích vào các tánh trong cơ chế tánh giác. (xem tiếp phần sóng Theta)

2. Sóng Alpha

Ý NGHĨA

Sóng não Alpha tượng trưng cho tâm tạm dừng lại vì nó có nương vào một đối tượng. Nhịp biết có lời và tỉnh thức ý thức của não kết hợp với hoạt động của 2 vùng tiền trán não phải và não trái, cộng với vùng Broca và vùng nói thầm.

Trong lúc sóng Beta nói lên sự gia tăng hoạt động của các vùng ý căn, ý thức, và trí năng, kết hợp với ngôn hành và ý hành, thì sóng Alpha tăng lên hoạt động của tự kỷ ám thị, kết hợp với "tầm" mà "không tứ."

Tự kỷ ám thị là cách thực hành thiền mình tự ngầm bảo cho mình về điều gì đó để tạo ra phản xạ vui thích hay ức chế tâm lý. Nó thường kết hợp với sự tưởng tượng hơn là thực tế.

ĐẶC TÍNH

Sóng não Alpha tượng trưng cho tâm lắng dịu, thư giãn, nhưng chưa thực sự yên lặng như sóng não Theta. Sóng này thưa hơn sóng Beta; trung bình từ 9 đến 13 Hz trong 1 giây.

Đặc tính của sóng não Alpha có lời nói thầm, nhưng không có đối thoại thầm lặng bên trong. Nói cách khác là có tầm không tứ. Nó tương xứng với trạng thái tỉnh thức ý thức. Đó là tuy có tỉnh thức, nhưng vẫn còn phân biệt hai bên: có ta và đối tượng của ta. Nhưng đặc biệt, trong tiến trình này không có hoạt động của suy nghĩ; trái lại có hoạt động của ý thức tập chú (focus) vào đối tượng hoặc trí năng tưởng tượng về đối tượng.

ĐIỀU KIỆN

Điều kiện làm phát sóng Alpha là khi ta dùng ý thức để tập trung vào một đối tượng. Lúc bấy giờ tuy tạp niệm thỉnh thoảng mới thò ra, nhưng tâm ta chưa thực sự dừng hẳn. Vì còn niệm tập trung. Đây là quá trình tâm còn một niệm.

Thông thường sự lập thành sóng não Alpha do hội đủ 4 điều kiện sau đây:

Ta/tự ngã + Tâm (Trí năng, ý thức, hoặc ý căn) + Tự kỷ ám thị + Đối tượng (chủ đề hay pháp) = Alpha

Thí dụ:

  1. Để hạn chế sự dao động nội tâm, ta cố gắng tập trung vào một đối tượng trước mặt hoặc trên thân mình, như đơn điền, hay đầu mũi, hoặc giữa trán. Trong tiến trình này sóng não được tác động để phát ra tần số tập trung vào đối tượng. Niệm tạp nhạp tuy không khởi lên, nhưng niệm biết không lời vẫn không có mặt trong tiến trình này; trái lại, có niệm tập trung vào một đối tượng. Qua phương thức này, sóng não Alpha xuất hiện.
  2. Để ngăn ngừa tạp niệm, khi thực hành thiền trong lúc đi, đứng hay ngồi, ta tập trung tư tưởng vào một đối tượng như miệng niệm danh hiệu Phật, tay lần tràng hạt. Trong tiến trình này, tác ý vẫn được tâm tác động để tập chú vào việc:
       - Miệng niệm Phật
       - Tay lần tràng hạt
    Như vậy, trong vi tế, tâm vẫn ở trạng thái động. Nhưng về trường hợp này, trạng thái tâm không lăng xăng dao động như trạng thái tâm thuộc dạng sóng Beta.
  3. Thở đếm từ 1 đến 10 và theo dõi hơi thở vào, ra.
  4. Khi người hành thiền trong trạng thái hôn trầm hay ngủ gật, sóng não cũng hiện lên dạng Alpha.
  5. Niệm thình lình bất chợt xẹt vào trong tâm mà người hành thiền không có ý mống khởi.
  6. Mơ mộng (daydreaming), mơ màng (light reverie), tưởng tượng (fantasizing), nhớ lại (remember), hồi tưởng (recall), và sự hình dung, tưởng tượng thấy (visualization) điều gì trong não.
  7. Mơ tưởng những viễn ảnh tương lai; ước mơ điều gì mình sẽ đạt được trong tương lai.
  8. Mống tâm tưởng nhớ hay hồi tưởng chuyện quá khứ; luyến tiếc hay hối hận chuyện đã xảy ra, và vẽ ra những ý đồ điều chỉnh lại những sai lầm trong quá khứ.
  9. Trong lúc tọa thiền, ta áp dụng tự kỷ ám thị, như liên tục vận dụng óc tưởng tượng để hình dung về điều gì mà ta chưa hề biết hay chưa hề chứng kiến, hoặc ta mơ tưởng một cảnh giới nào đó ở ngoài trái đất mà ta sẽ đến đó, sau khi chết.

SO SÁNH

Đối nghịch với sóng Beta là sóng Alpha. Với sóng não Alpha, trong ngũ uẩn, Tưởng có mặt thường trực.

Ta có thể so sánh sóng Beta tượng trưng cho niệm ác, niệm bất thiện, tạo ra sự căng thẳng thần kinh, còn sóng Alpha tượng trưng cho niệm thiện, niệm tốt, niệm yên lặng, niệm biết rõ về một đối tượng. Tương xứng với nhất tâm 4, hay tâm có một điểm cụ thể để trụ.

Trong tiến trình niệm này, tác ý vẫn còn có mặt. Đó là "Ta" chú ý hay tập chú vào "đối tượng của ta" như thế nào đó.

Mặc dù lúc bấy giờ tâm người có dạng sóng Alpha ở trạng thái thư giãn, không dao động lăng xăng như người cố gắng tối đa để thực hành một chủ đề nào đó trong thiền; trái lại, trong đầu người đó vẫn còn khởi niệm: cố gắng theo dõi những hoạt động trên thân hoặc tưởng tượng tâm mình như thế nào đó... Đây là tác ý.

Thí dụ, khởi ý cố gắng dụng công về chủ đề Thở trong Thiền. Rồi tưởng tượng hơi thở của mình như thế nào khi hít vào, lúc thở ra. Đó là tự kỷ ám thị. Trong tiến trình này, ta sử dụng trí năng suy luận để thực tập:

  • Cố gắng nhớ số đếm từ 1 đến 10; quên thì đếm lại; hoặc đếm ngược: 10, 9, 8, 7, 6, 5, 4, 3, 2, 1; hoặc đếm xuôi: 1, 2, 3...
  • Tưởng tượng về hơi thở và tâm như thế nào đó.

Với điều kiện này, niệm tạp nhạp tuy không xuất hiện, nhưng vẫn còn lại là niệm tưởng tượng khi dụng công. Tâm chưa trở nên hoàn toàn yên tịnh: vẫn còn dính với cảnh.

Hoặc khi ngồi thiền, ta hình dung hay tưởng tượng mỗi lần hít vào hay thở ra, thân khoẻ mạh, tâm tươi mát... Trong trường hợp này, bề ngoài xem như nội tâm có vẻ yên lặng và thư giãn, nhưng kỳ thật niệm niệm cứ liên tục khởi lên theo sự tưởng tượng của ta.

Với trạng thái tâm ở mức độ động vi tế này, sóng Alpha xuất hiện thường trực. Sóng này có biên độ 5 thấp (low-amplitude), chậm, có tần số 6 trung bình từ 9 đến 13 Hz trong mỗi giây.

Như vậy, nếu áp dụng Thở Đếm hay Theo Dõi Hơi Thở, hoặc Quán hay quan sát một đề mục nào đó trên thân, hoặc tự kỷ ám thị để tưởng tượng một cảnh giới, một hình ảnh nào đó, sóng Alpha liền xuất hiện. Điều này cho thấy, sóng Alpha liên kết giữa tâm thức và tiềm thức.

Thí dụ, trong lúc áp dụng các phương thức Quán, tuy ta không suy nghĩ lung tung, niệm tạp nhạp không khởi lên, nhưng trong đầu vẫn còn có niệm. Lý do là ta đang tập chú tâm thức để cố hình dung về chủ đề ta đương thực tập. Đây là điều kiện làm cho sóng Alpha xuất hiện.

SỰ LIÊN KẾT GIỮA SÓNG ALPHA VÀ GIÁC QUAN

Trên phương diện sinh lý học, sóng Alpha được liên kết với mắt và trạng thái biết của ý thức phân biệt, và biết của trí năng.

Khi áp dụng nhìn ánh sáng nắng, nhìn mây bay trên bầu trời, chúng ta sẽ tạo ra sóng Alpha nhanh hơn. Còn nếu ngồi nhìn mây bay trên trời mà trong não liên tục khởi lên niệm nói thầm hay đối thoại thầm lặng, sóng Alpha cũng xuất hiện.

Ngoài ra, nếu ngồi thiền mà đảo mắt ngược lên, ta sẽ tạo ra sóng Alpha nhiều hơn.

CÁCH KIỂM SOÁT SÓNG NÃO ALPHA ĐỂ CÓ SÓNG NÃO THETA

Sóng Alpha sẽ không xuất hiện, thế vào đó là sóng não Theta, nếu ta áp dụng:

  • Phương pháp Thở bằng niệm Biết Không Lời;
  • Nhìn đối tượng trước mắt bằng thầm nhận biết hay chỉ biết.
  • Tọa thiền trong trạng thái thư giãn. Thí dụ, thư giãn lưỡi, thư giãn thần kinh mặt, sóng Alpha sẽ xuất hiện trước, sau đó đi vào Theta.
  • Tâm ở trạng thái biết không dính (detached awareness) hoặc biết không lời (wordless awareness).

(Xin đọc tiếp trang 3)